- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐ tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/DSST Ngày 03-06-2020 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Hải và bà Võ Thị Mơ
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thúy Nga – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2019/TLST-DS, ngày 16/7/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2019/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Th T
Trụ sở: 266-268 đường M, phường N, Quận P, TP. Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H – Trưởng phòng kiểm soát rủi ro - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T Chi nhánh Đăk Nông – Có mặt.
Địa chỉ: Số 33 đường M, TX. P, tỉnh Đăk Nông.
Bị đơn: Anh Trần Đình Nh và chị Bùi Thị Th – Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản khác trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 02.04.2018 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T – Chi nhánh Đăk Nông ký hợp đồng tín dụng số: LD1809200521 với anh Trần Đình Nh và chị Bùi Thị Th, theo đó Ngân hàng đồng ý cho anh Nh, chị Th vay số tiền 600.000.000đồng, thời hạn vay 36 tháng với lãi suất 03 tháng đầu tiên 12%/năm sau đó được điều chỉnh theo hợp đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ngày 06/04/2018 anh Nh, chị Th có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 210/2018/TCGN để thế chấp thửa đất số 24 tờ bản đồ số 145, diện tích 12.496m2 và thửa đất số 45 tờ bản đồ số 145, diện tích 3.116m2 đất tọa lạc tại thôn M, xã N, huyện P theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BX 950313; BX 950314
Từ thời điểm nhận nợ cho đến nay anh Nh, chị Th đã liên tiếp vi phạm các kỳ trả nợ. Qua nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng anh Nh, chị Th vẫn không có thiện chí trả nợ. Do đó Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh Nh, chị Th phải trả số tiền nợ gốc 600.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 03.06.2020 là 164.940.822 đồng; tiền lãi phạt chậm trả vốn 8.027.589 đồng; lãi phạt chậm trả lãi 8.706.013 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả xong theo lãi suất quy định tại Hợp đồng số tín dụng số: LD1809200521 ngày 02/4/2018. Trường hợp anh Nh, chị Th không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 210/2018/TCGN, ngày 06.04.2018.
Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án anh Nh, chị Th không đến Tòa án để làm việc. Qua xác minh tại chính quyền địa phương được biết anh Nh, chị Th có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông. Hiện nay chị Th có mặt ở địa phương còn anh Nh đang chấp hành án tại Trại giam Đăk P’Lao-Bộ Công an. Tòa án đã tiến hành ủy thác lấy lời khai, anh Nh có đơn xin giải quyết vắng mặt. Đối với chị Th Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Th. Tuy nhiên chị Th vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc cũng như tại phiên tòa.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và về nội dung vụ án phát biểu như sau:
Qua nghiên cứu đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng thì thấy: Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc thụ lý giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa tốt theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Qua các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Nh, chị Th trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T số tiền gốc 600.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật.
Các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Bản sao y Hồ sơ pháp lý của Ngân hàng, hồ sơ Tín dụng, hồ sơ khách hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T khởi kiện yêu cầu anh Trần Đình Nh, chị Bùi Thị Th trả số tiền nợ gốc 600.000.000 đồng và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên tranh chấp được xác định là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh TRần Đình Nh, chị Bùi Thị Th cư trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thời hiệu khởi kiện: Do một trong hai bên đương sự không có yêu cầu về áp dụng thời hiệu khởi kiện nên theo quy định tại khoản 2 Điều 184 của BLTTDS nên HĐXX không xem xét vấn đề về thời hiệu khởi kiện.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T và hợp đồng tín dụng các bên ký kết, HĐXX xét thấy: Ngày 02.04.2018 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T – Chi nhánh Đăk Nông ký hợp đồng tín dụng số: LD1809200521 với anh Trần Đình Nh và chị Bùi Thị Th, theo đó Ngân hàng đồng ý cho anh Nh, chị Th vay số tiền 600.000.000đồng, thời hạn vay 36 tháng với lãi suất 03 tháng đầu tiên 12%/năm sau đó được điều chỉnh theo hợp đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ngày 06/04/2018 anh Nh, chị Th có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 210/2018/TCGN để thế chấp thửa đất số 24 tờ bản đồ số 145, diện tích 12.496m2 và thửa đất số 45 tờ bản đồ số 145, diện tích 3.116m2 đất tọa lạc tại thôn M, xã N, huyện P theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BX 950313; BX 950314. HĐXX xét thấy Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T với anh Nh, chị Th có nội dung và hình thức phù hợp quy định pháp luật nên hợp đồng tín dụng hợp pháp, có hiệu lực đối với các bên tham gia ký kết.
Từ thời điểm nhận nợ anh Nh, chị Th đã liên tiếp vi phạm các kỳ trả nợ cho Ngân hàng. Như vậy anh Nh, chị Th đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 03.06.2020, anh Nh, chị Th còn nợ Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền gốc là 600.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 181.674.424 đồng. Tổng gốc và lãi 781.674.424 đồng.
Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T:
Xét hợp đồng thế chấp QSDĐ số 210/2018/TCGN ngày 06/04/2018, HĐXX xét thấy hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản, các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng theo quy định của pháp luật quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319 Bộ luật dân sự, nên hợp đồng đã phát sinh hiệu lực giữa các bên.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thành lập Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ đối với các thửa đất số 24 tờ bản đồ số 145, diện tích 12.496m2 và thửa đất số 45 tờ bản đồ số 145, diện tích 3.116m2 đất tọa lạc tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông. Qua xem xét thẩm định tại chỗ xác định các thửa đất trên thực tế đúng với vị trí, tọa độ diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nh, chị Th được cấp. Vì vậy, HĐXX xét thấy yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T là có căn cứ nên được chấp nhận.
Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T, buộc anh Nh, chị Th phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T số tiền gốc 600.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 03/06/2020 là 181.674.424 đồng. Tổng cộng 781.674.424 đồng (làm tròn số 781.674.000 đồng) và tiền lãi phát sinh sau ngày 03.06.2020 cho đến khi trả xong theo lãi suất quy định tại Hợp đồng số: LD1809200521 ngày 02/04/2018. Trường hợp anh Nh, chị Th không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp đối với các thửa đất số 24 tờ bản đồ số 145, diện tích 12.496m2 và thửa đất số 45 tờ bản đồ số 145, diện tích 3.116m2 đất tọa lạc tại thôn M, xã N, huyện P theo hợp đồng thế chấp số: 210/2018/TCGN, ngày 06.04.2018.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn anh Nh, chị Th phải chịu toàn bộ chi phí trên. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T đã nộp tạm ứng 4.000.000đ. Buộc anh Nh, chị Th phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T 4.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn anh Nh, chị Th phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 35.266.976 đồng (làm tròn số 35.266.000đ). Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T số tiền 15.815.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002194 ngày 16/7/2019 tại Chi cục THA Dân sự huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 299; Điều 317; Điều 320; Điều 322; Điều 322; Điều 323; Điều 385; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
1.1 Buộc anh Trần Đình Nh, chị Bùi Thị Th phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T số tiền nợ gốc 600.000.000đồng (Sáu trăm triệu đồng); nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (03/06/2020) là 181.674.000 đồng (Một trăm tám mươi mốt triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn đồng). Tổng cộng: 781.674.000 đồng (Bảy trăm tám mươi mốt triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) và tiền lãi phát sinh sau ngày 03/06/2020 cho đến khi trả nợ xong theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số LD1809200521 ngày 02/04/2018.
1.2 Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T có đơn yêu cầu thi hành án anh Nh, chị Th không thanh toán khoản nợ gốc và lãi trên thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Song xử lý theo thủ tục thi hành án đối với các tài sản thế chấp thửa đất số 24 tờ bản đồ số 145, diện tích 12.496m2 và thửa đất số 45 tờ bản đồ số 145, diện tích 3.116m2 đất tọa lạc tại thôn M, xã N, huyện P theo HĐ thế chấp số: 210/2018/TCGN ngày 06/04/2018.
1.3 Trường hợp số tiền thu được từ tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản nợ thì anh Nh, chị Th phải tiếp tục trả số nợ còn lại cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T
2. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn anh Nh, chị Th phải chịu toàn bộ chi phí trên. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T đã nộp tạm ứng 4.000.000đ. Buộc anh Nh, chị Th phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Trần Đình Nh và chị Bùi Thị Th phải chịu 35.266.000 đồng (Ba mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th T số tiền 15.815.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002194 ngày 16/7/2019 tại Chi cục THA Dân sự huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.”
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Đăk Song; - Chi cục THA huyện Đăk Song; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thanh Phong |