vanban.org

Bản án 18/2020/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 10/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Th đối với bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D. Buộc bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D liên đới chịu trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Kim Th số tiền 27.050.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bản án giữa bà Nguyễn Kim Th và bà Nguyễn Thị Bé H"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN Ô MÔN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2020/DS-ST
Ngày: 10-9-2020
V/v Tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN –THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Trần Thanh Thế.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Tân An.

2. Ông Trương Sô Huy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ.

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2020/TLST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2020/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2020/QĐST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim Th, sinh năm 1989. (Có mặt)

Địa chỉ: Khu vực G, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1972. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực G, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Hồng D, sinh năm 1968. (Vắng mặt)

- Ông Nguyễn Văn Bé B, sinh năm 1979. (có đơn xin vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971. (có đơn xin vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953. (có đơn xin vắng mặt)

- Bà Ngô Thị Hồng T1, sinh năm 1952. (có đơn xin vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1955. (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực G, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ.

- Ông Nguyễn Thành Nhân, sinh năm 1978. (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực H, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Nguyễn Kim Th trình bày:

Bà và bà Nguyễn Thị Bé H, ông Lê Hồng D có quen biết cùng xóm nên bà có tham gia chơi hụi do bà H và ông D làm chủ hụi, gồm các chân hụi:

- 01 chân hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/8/2017 (âm lịch) gồm có 17 phần, bà góp được 16 lần số tiền là 15.500.000 đồng.

- 01 chân hụi mùa 2.000.000 đồng, khui ngày 20/7/2017 (âm lịch) gồm có 15 phần, bà góp được 06 lần số tiền là 12.000.000 đồng.

- 01 chân hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 30/5/2018 (âm lịch) gồm có 17 phần, bà góp được 07 lần số tiền là 7.000.000 đồng.

- 01 chân hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 05/7/2018 (âm lịch) gồm có 16 phần, bà góp được 05 lần số tiền là 5.000.000 đồng.

- 01 chân hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/7/2018 (âm lịch) gồm có 16 phần, bà góp được 05 lần số tiền là 5.000.000 đồng.

Ngày 03/9/2019, bà Thông (mẹ của bà H) đã trả cho bà số tiền 5.000.000 đồng, như vậy, bà H và ông D còn nợ bà số tiền 39.500.000 đồng.

Sau đó bà H tuyên bố bể hụi và không trả tiền lại cho bà, bà đã nhiều lần yêu cầu bà H và ông D trả số tiền trên nhưng bà H và ông D hứa hẹn nhiều lần và kéo dài đến nay.

Nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D trả lại cho bà số tiền hụi là 39.500.000 đồng (Ba mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 25/02/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Lê Hồng D trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Bé H là vợ chồng, cùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu vực 12, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Bà H có làm chủ hụi khoảng 10 năm nay, đến khoảng tháng 9 năm 2019 thì bể hụi. Do kinh tế gia đình quá khó khăn không có khả năng trả tiền hụi cho các hụi viên nên đến tháng 10/2019, ông và bà H đi đến tỉnh Bình Dương tìm việc làm.

Khi bà Bé H làm chủ hụi, bà Nguyễn Kim Th có tham gia chơi hụi nhưng ông không biết bà Th tham gia bao nhiêu chân hụi. Ông thừa nhận bà H có nợ tiền hụi của bà Th nhưng hiện nay ông chưa xác định được số tiền hụi bà H nợ bà Th là bao nhiêu. Do bận đi làm nên bà H không đến Tòa án được, ông và bà H sẽ tính toán lại sổ hụi để xác định số tiền hụi còn nợ bà Th.

Mặc dù việc tổ chức hụi là do bà H tự làm, ông không có tham gia nhưng do là vợ chồng nên ông đồng ý cùng bà H chịu trách nhiệm trả lại cho bà Th số tiền hụi thực tế bà Th đã đóng, yêu cầu bà Th không tính tiền lãi.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Văn Bé B trình bày:

Ông và bà Nguyễn Kim Th có quen biết nhau vì cùng tham gia hụi do bà Nguyễn Thị Bé H làm chủ hụi. Ông và bà Th có tham gia chung 02 dây hụi gồm:

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/8/2017 (âm lịch) gồm có 17 phần, ông tham gia 01 phần và đã góp 16 lần với số tiền 16.000.000 đồng.

- Hụi mùa 2.000.000 đồng, khui ngày 20/7/2017 (âm lịch) gồm có 15 phần, ông tham gia 02 phần và đã góp số tiền 24.000.000 đồng.

Ông chỉ biết ông và bà Th có tham gia chung 02 dây hụi trên, ông và bà Th đều chưa hốt hụi. Còn việc bà Th tham gia mấy phần hụi, đã góp được bao nhiêu tiền thì ông không biết.

Ông không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đồng thời, do bận công việc nên ông yêu cầu được vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử vụ án này.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà và bà Nguyễn Kim Th có quen biết nhau vì cùng tham gia hụi do bà Nguyễn Thị Bé H làm chủ hụi. Bà và bà Th tham gia chung 02 dây hụi gồm:

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/8/2017 (âm lịch), gồm có 17 phần. Bà tham gia 02 phần, phần hụi này bà đã hốt xong.

- Hụi mùa 2.000.000 đồng, khui ngày 20/7/2017 (âm lịch), gồm có 15 phần. Dây hụi này bà tham gia 01 phần hụi, bà đã góp được 06 lần và chưa hốt hụi.

Bà chỉ biết có tham gia chung với bà Th 02 dây hụi trên, bà Th chưa hốt hụi. Còn việc bà Th tham gia mấy phần, đã góp được bao nhiêu lần thì bà không biết. Nay bà không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đồng thời, do bận công việc nên bà yêu cầu được vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử vụ án này.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà và bà Nguyễn Kim Th có quen biết nhau vì cùng tham gia hụi do bà Nguyễn Thị Bé H làm chủ hụi. Bà và bà Th cùng tham gia chung 01 dây hụi: Hụi mùa 2.000.000 đồng khui ngày 20/7/2017 (âm lịch), gồm có 15 phần. Dây hụi này bà tham gia 02 phần, bà đã đóng được 06 lần số tiền 24.000.000 đồng và chưa hốt hụi.

Bà chỉ biết bà Th chưa hốt hụi này, còn bà Th tham gia mấy phần, đã góp được bao nhiêu lần thì bà không biết.

Nay bà không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đồng thời, do bận công việc nên bà yêu cầu được vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử vụ án này.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Ngô Thị Hồng T1 trình bày:

Bà và bà Nguyễn Kim Th có quen biết nhau vì cùng tham gia hụi do bà Nguyễn Thị Bé H làm chủ hụi. Bà và bà Th có tham gia chung dây hụi do bà Bé H làm chủ hụi: Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 05/7/2018 (âm lịch), gồm có 16 phần. Bà tham gia 03 phần, còn bà Th thì tham gia 01 phần. Phần hụi này bà đã góp được 15.000.000 đồng, bà Th đã góp 5.000.000 đồng. Bà và bà Th đều chưa hốt hụi. Do bể hụi nên bà Bé H chưa giao tiền hụi cho bà và bà Th.

Nay bà không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đồng thời, do bận công việc nên bà yêu cầu được vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử vụ án này.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị T2 trình bày:

Bà là mẹ của bà Nguyễn Kim Th. Bà và bà Th cùng tham gia 03 dây hụi do bà Nguyễn Thị Bé H làm chủ hụi gồm:

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 05/7/2018 (âm lịch), gồm có 16 phần. Bà tham gia 01 phần, phần hụi này bà đã góp được 05 lần với số tiền 5.000.000 đồng, bà và bà Th đều chưa hốt hụi.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/7/2018 (âm lịch), gồm có 16 phần. Bà tham gia 01 phần hụi, phần hụi này bà đã góp được 05 lần với số tiền 5.000.000 đồng, bà và bà Th đều chưa hốt hụi.

Bà chỉ biết có tham gia chơi hụi với bà Th các dây hụi này, bà và bà Th đều chưa hốt hụi, còn bà Th tham gia mấy phần, đã góp được bao nhiêu lần thì bà không nhớ rõ.

Nay bà không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đồng thời, do bận công việc nên bà yêu cầu được vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử vụ án này.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Thành Nhân trình bày:

Ông và bà Nguyễn Kim Th có quen biết nhau vì cùng chơi hụi do bà Nguyễn Thị Bé H làm chủ hụi: Hụi ngày 15/8/2017 (âm lịch), có 16 phần. Dây hụi này ông tham gia 02 phần hụi, mỗi phần hụi ông đã đóng 14 lần số tiền 14.000.000 đồng. Việc bà Th tham gia mấy phần hụi, đã đóng bao nhiêu lần thì ông không biết. Ông chỉ biết có chơi chung hụi với bà Th, ông và bà Th đều chưa hốt hụi.

Nay ông không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đồng thời, do bận công việc nên ông yêu cầu được vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử vụ án này.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn bà Nguyễn Kim Th thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D cùng chịu trách nhiệm trả cho bà số tiền hụi là 27.050.000 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Bà Th rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 7.000.000 đồng của dây hụi ngày 30/5/2018 (âm lịch).

Đối với dây hụi ngày 15/8/2017 (âm lịch), thực tế có 17 phần nhưng giấy hụi chỉ ghi 16 phần, còn 01 phần không ghi vào giấy hụi nên bà Th đồng ý xác định dây hụi này có 16 phần, bà hốt chót số tiền là 15.000.000 đồng.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé H vắng mặt không có lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng D vắng mặt không có lý do; ông Nguyễn Văn Bé B, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị B, bà Ngô Thị Hồng T1, bà Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Thành Nhân có đơn xin vắng mặt.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hụi”, xác định tư cách đương sự và tiến hành thu thập chứng cứ đúng quy định.

+ Về nội dung: Qua xem xét các tài liệu chứng cứ và diễn biến tại phiên tòa, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà H và ông D trả cho bà Th số tiền hụi 27.050.000 đồng; đồng thời áp dụng Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với dây hụi ngày 30/5/2018.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Bà Th, ông D, ông B, bà L, bà B, bà T1, bà T2 và ông Nhân cùng xác định bà H có làm chủ hụi, quá trình làm hụi có phát sinh tranh chấp nên bà Th khởi kiện, do đó quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hụi”. Đây là tranh chấp dân sự giữa cá nhân với cá nhân, được pháp luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 và Điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do; ông Nguyễn Văn Bé B, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị B, bà Ngô Thị Hồng T1, bà Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Thành Nhân có đơn xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Từ năm 2017 đến năm 2018, bà H có làm chủ hụi nhiều dây hụi, bà Th có tham gia 04 dây hụi:

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, mỗi tháng khui 01 lần, khui ngày 15/8/2017 (âm lịch) gồm có 16 phần. Hụi viên gồm có bà Th, bà L, bà T2, ông B , ông Nhân và một số người khác không rõ họ tên và địa chỉ. Bà Th tham gia 01 phần, đã góp được 15 lần. Bà L tham gia 02 phần và đã hốt xong; ông B tham gia 01 phần, ông Nhân tham gia 02 phần. Bà Th, ông B và ông Nhân, chưa hốt hụi.

Dây hụi này đã mãn, bà Th hốt chót với số tiền là 15.000.000 đồng, bà Th tự nguyện trừ tiền huê hồng cho chủ hụi – bà H với số tiền 500.000 đồng. Sau khi trừ tiền huê hồng thì tiền hụi còn lại là 14.500.000 đồng. Sau khi bể hụi, bà Thông (mẹ của bà H) đã trả cho bà số tiền 5.000.000 đồng, số tiền còn lại của dây hụi này là 9.500.000 đồng.

- Hụi mùa 2.000.000 đồng, 03 tháng khui 01 lần, khui ngày 20/7/2017 (âm lịch) gồm có 15 phần. Hụi viên gồm có bà Th, bà L, bà B, ông B và một số người khác không rõ họ tên và địa chỉ. Bà Th tham gia 01 phần, đã góp được 06 lần, bình quân mỗi lần góp khoảng 1.550.000 đồng, tổng số tiền bà Th đã góp là 9.300.000 đồng. Bà L tham gia 01 phần, bà B tham gia 02 phần, ông B tham gia 02 phần. Bà Th, bà L, bà B và ông B chưa hốt hụi.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 05/7/2018 (âm lịch) gồm có 16 phần. Hụi viên gồm có bà Th, bà T1, bà T2 và một số người khác không rõ họ tên và địa chỉ. Bà Th tham gia 01 phần, đã góp được 05 lần, bình quân mỗi lần góp khoảng 825.000 đồng, tổng số tiền bà Th đã góp là 4.125.000 đồng. Bà T1 tham gia 03 phần, bà T2 tham gia 01 phần. Bà Th, bà T1 và bà T2 chưa hốt hụi.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/7/2018 (âm lịch) gồm có 16 phần. Hụi viên gồm có bà Th, bà T2 và một số người khác không rõ họ tên và địa chỉ. Bà Th tham gia 01 phần, đã góp được 05 lần, bình quân mỗi lần góp khoảng 825.000 đồng, tổng số tiền đã góp là 4.125.000 đồng. Bà T2 tham gia 01 phần. Bà Th và bà T2 chưa hốt hụi.

Nay bà Th yêu cầu bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D trả cho bà số tiền hụi là 27.050.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng). Ông B, bà L, bà B, bà T1, bà T2 và ông Nhân không có yêu cầu trong vụ án này.

Ngoài ra, bà Th còn tham gia dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 30/5/2018 (âm lịch) gồm có 17 phần, bà Th tham gia 01 phần, đã góp được 07 lần nhưng không có giấy hụi và cũng không biết thông tin của các hụi viên khác. Do đó, bà Th xin rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 7.000.000 đồng của dây hụi này.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo đơn khởi kiện, bà Th yêu cầu bà H, ông D trả cho bà số tiền 39.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bà Th có thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà chỉ yêu cầu bà H, ông D trả số tiền 27.050.000 đồng. Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, có quyền chấm dứt hoặc thay đổi yêu cầu của mình. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi đơn khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, bà Th có cung cấp 04 tờ giấy hụi viết tay thể hiện các dây hụi ngày 15/8/2017, ngày 20/7/2017, ngày 05/7/2018 và ngày 10/7/2018 (cùng tính theo ngày âm lịch). Theo bà Th thì đây là các giấy hụi do bà H tự ghi và đưa cho bà và các hụi viên. Bà Th chỉ biết có chơi hụi cùng với ông B, bà L, bà B, bà T1, bà T2 và ông Nhân, còn lại tên của những người khác trong giấy hụi thì bà không biết. Trong quá trình tham gia hụi, bà H không cho các hụi viên biết cụ thể những ai đã hốt hụi, do tin tưởng nên bà vẫn góp hụi đầy đủ cho bà H, đến khi bể hụi thì bà mới biết có một số dây hụi mặc dù đã mãn nhưng vẫn còn nhiều người chưa được hốt hụi.

Ông B, bà L, bà B, bà T1, bà T2 và ông Nhân đều thừa nhận các dây hụi ngày 15/8/2017, ngày 20/7/2017, ngày 05/7/2018 và ngày 10/7/2018 (ngày âm lịch) là có thật. Ông D thừa nhận việc bà H có nợ tiền hụi của bà Th nhưng không xác định được cụ thể bao nhiêu tiền. Do bà H và ông D đã vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không đưa ra ý kiến phản bác đối với chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của bà Th nên Hội đồng xét xử xem xét đối chiếu lời khai của các đương sự cùng với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, từ đó có cơ sở để xác định tổng số tiền hụi bà H nợ bà Th đối với 04 dây hụi ngày 15/8/2017, ngày 20/7/2017, ngày 05/7/2018 và ngày 10/7/2018 (ngày âm lịch) là 27.050.000 đồng.

Đối với ông D là chồng của bà H, mặc dù không trực tiếp tổ chức các dây hụi trên nhưng theo bà Th thì ông D là người thu tiền hụi của bà góp cho bà H; đồng thời, ông D cũng tự nguyện cùng bà H trả số tiền hụi mà bà H còn nợ bà Th. Do đó, cần buộc ông D liên đới chịu trách nhiệm cùng bà H trả cho bà Th số tiền 27.050.000 đồng là phù hợp quy định điều 27 Luật Hôn nhân gia đình.

Đối với dây hụi ngày 30/5/2018, tại phiên tòa bà Th xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với dây hụi này với số tiền là 7.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ những phân tích và đánh giá nêu trên cho thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với ông Nguyễn Văn Bé B, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị B, bà Ngô Thị Hồng T1, bà Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Thành Nhân có tham gia một số dây hụi cùng với bà T1 nhưng các đương sự không có yêu cầu gì trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Th được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên ông D, bà H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bà Th được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 357, Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Th đối với bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D.

Buộc bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D liên đới chịu trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Kim Th số tiền 27.050.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất được quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2/ Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Th về việc buộc bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D trả số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) của dây hụi ngày 30/5/2018 (âm lịch).

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D phải nộp số tiền 1.352.500 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi hai nghìn năm trăm đồng).

- Bà Nguyễn Kim Th được nhận lại số tiền 987.500 đồng (Chín trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 010780 ngày 17/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ