- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giáp Ngọc S - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giáp Ngọc S phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂNDÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18 /2019/HSST Ngày: 23/4/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Long.
+ Thẩm phán: Bà Bùi Thị Nghĩa.
+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Gia Cát.
Ông Phạm Văn Tuất.
Bà Văn Thị Lệ Văn.
+ Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Chiến - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Ông Trƣơng Quang Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 23/4/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Giáp Ngọc S - sinh năm 1995; Nơi ĐKNKTT và chổ ở: Suối Hàng, Vạn Khánh, Vạn Ninh, Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Giáp Trọng T (1975) và bà Ngô Thị X (1976); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/01/2017, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Huỳnh Văn Thành - Công ty luật TNHH một thành viên A Tịnh, Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa - bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của Tòa án. Luật sư Thành có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Phi H (chết ngày 22/01/2017).
- Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn B, bà Phạm Thị B; Địa chỉ: Tổ 1 Hòa Tây, Vĩnh Hòa, Nha Trang, Khánh Hòa. Ông B ủy quyền cho bà B tham gia tố tụng. Bà B có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Giáp Trọng T (1975); Bà Ngô Thị X (1976); Cùng địa chỉ: Thôn Suối Hàng, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Ông T, bà X đều có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Ông Trƣơng Văn L (1954); Địa chỉ: 335 Ngô Đến, Ngọc Sơn, Ngọc Hiệp, Nha Trang, Khánh Hòa. Ông L vắng mặt tại phiên tòa.
2. Chị Bùi Thị Út H (1999); Địa chỉ: 43/8 Đoàn Trần Nghiệp, Vĩnh Phước, Nha Trang, Khánh Hòa. Chị H có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giáp Ngọc S và Nguyễn Phi H cùng có quan hệ tình cảm với chị Bùi Thị Út H. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 16/01/2017, S điều khiển xe máy chở H đi ăn rồi đến công viên Bạch Đằng chơi. Trong lúc S và H nói chuyện thì H gọi điện thoại nhưng H không nghe.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, S chở H về phòng trọ của H ở tổ 15 Ngọc Sơn, Ngọc Hiệp, Nha Trang, Khánh Hòa thì thấy H đang ngồi chờ trước cửa phòng trọ. Khi chị H đi đến chổ H thì bị H tát 02 cái vào mặt nên H và H xảy ra kình cãi. H bỏ đi đến chỗ của S, dùng tay đánh 02 cái vào đầu S và nói: “Tao là người yêu của H”, rồi quay lại tiếp tục cãi nhau với H. Lúc này, S điều khiển xe bỏ đi được khoảng 300 - 400m thì thấy đống xà bần bê tông, S dừng xe nhặt 01 cục bê tông kích thược khoảng 12cm x 5cm để lên trên ba ga trước của xe rồi điều khiển xe quay lại phòng trọ của H để đánh H. Khi thấy H quay mặt vào trong cãi nhau với H thì S cho xe chạy vượt qua khoảng 10m rồi quay lại, khi còn cách H khoảng 1,5m thì S dùng tay phải cầm lấy cục bê tông ném vào đầu H rồi bỏ chạy. H bị thương được H và mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa, đến ngày 22/01/2017 thì tử vong.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSKH-P1 ngày 26/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố Giáp Ngọc S về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, vị luật sư bào chữa cho bị cáo và bị cáo S đều cho rằng: Bị cáo không có ý định giết anh Nguyễn Phi H, vì trước đó vô cớ bị H đánh nên bị cáo bực tức và chỉ có ý định cảnh cáo H nên có dùng cục bê tông ném vào H, cái chết của H nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải việc làm của mình; đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của đại diện bị hại. Vì vậy, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhận định: Việc bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại, làm cho bị hại tử vong, đã cấu thành tội giết người theo quy định của pháp luật. Sau khi phạm tội, bị cáo có tác động gia đình bồi thường cho phía bị hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt đối với bị cáo Giáp Ngọc S từ 14 đến 16 năm tù; Về trách nhiệm dân sự, các bên không có yêu cầu gì nên không xét; Về vật chứng: Sau khi có bản án phúc thẩm, Cơ quan thi hành án đã tiến hành tiêu hủy vật chứng theo quy định, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xử lý vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, những người làm chứng Trương Văn L vắng mặt. Vị đại diện Viện kiểm sát, vị luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều đề nghị vẫn tiến hành xét xử. Xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai và sự vắng mặt của ông Trương Văn L không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người làm chứng có tên nêu trên.
Luật sư Huỳnh Văn Thành có đơn xin vắng mặt và gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo Giáp Ngọc S, bị cáo S đồng ý với việc xin vắng mặt của luật sư Thành, đồng ý với bản luận cứ bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt luật sư Huỳnh Văn Thành. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 291 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt luật sư Huỳnh Văn Thành.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Giáp Ngọc S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20h30 ngày 16/01/2017, Giáp Ngọc S và chị Bùi Thị Út H đi chơi về thì thấy Nguyễn Phi H đang ngồi trước phòng trọ của chị H, giữa anh H và chị H xảy ra mâu thuẫn, H tát chị H 02 cái rồi đi đến chổ S nói: “Tao là người yêu của H” rồi dùng tay đánh S 02 cái vào đầu, sau đó H quay lại tranh cãi với H. S điều khiển xe bỏ đi khoảng 300m thì nhặt một cục bê tông kích thước 12cm x 5cm bỏ lên xe rồi quay lại để đánh H. Khi thấy H đứng quay lưng ra đường và vẫn đang cãi nhau với H thì S cho xe chạy vượt qua khoảng 10m rồi quay lại và giảm tốc độ, khi còn cách H khoảng 1,5m thì S dùng tay phải cầm cục bê tông ném vào đầu của H rồi điều khiển xe bỏ chạy. Anh Nguyễn Phi H được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng sau đó tử vong do bị chấn thương sọ não. Như vậy, Cáo trạng số 17/CT-VKSKH-P1 ngày 26/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Giáp Ngọc S về tội “Giế t ngườ i” theo quy định tại điể m n khoả n 1 Điề u 123 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác trái pháp luật, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bất ổn trong quần chúng nhân dân. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, bị cáo S đã dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại (vùng đầu), hậu quả là cho bị hại tử vong. Bị cáo buộc phải biết hậu quả từ hành vi mà bị cáo thực hiện có thể dẫn đến cái chết cho bị hại. Nguyên nhân tử vong của anh H có mối quan hệ nhân quả với hành vi của bị cáo, do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện tính côn đồ nên cần phải xử phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình của bị hại; bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là quân nhân xuất ngũ nên cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại bà Phạm Thị B; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Giáp Trọng T, bà Ngô Thị X đều không có yêu cầu gì nên không xét.
Về vật chứng của vụ án: Xét thấy sau khi có bản án phúc thẩm số 119/2017/HSPT ngày 30/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Cơ quan thi hành án đã tiến hành tiêu hủy vật chứng của vụ án tại Biên bản Tiêu hủy vật chứng ngày 19/01/2018. Do vậy, đến nay vật chứng của vụ án đã không còn nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Giáp Ngọc S phạm tội “Giết người”.
2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Giáp Ngọc S.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Xử phạt bị cáo Giáp Ngọc S 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 22/01/2017.
3.Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại bà Phạm Thị B; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Giáp Trọng T, bà Ngô Thị X đều không có yêu cầu gì nên không xét.
4. Về vật chứng vụ án: Xét thấy sau khi có bản án phúc thẩm số 119/2017/HSPT ngày 30/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Cơ quan thi hành án đã tiến hành tiêu hủy vật chứng của vụ án tại Biên bản Tiêu hủy vật chứng ngày 19/01/2018. Do vậy, đến nay vật chứng của vụ án đã không còn nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Bị cáo Giáp Ngọc S phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa; - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tuấn Long |