vanban.org

Bản án 18/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội Tuyên án 20/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị H trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH O
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HSST
Ngày: 20/04/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH O, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tích

Bà Nguyễn Thị Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Th O, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Th O, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2019/TLST-HS ngày 28/03/2019 đối với bị cáo: Họ và tên: Phạm Thị H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1992; Giớ i tinh : Nữ;

́ HKTT và nơi ở: thôn S L, xã Bình Minh, huyê ̣n Th O, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Họ và tên bố : Phạm Minh Th , sinh năm 1956; Họ và tên mẹ: Lê Thi ̣ Th, sinh năm 1957; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo hiê ̣n đa ly hôn, có 01 con sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Bị̃ cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Tại phiên tòa có mặt. Người bị hại: Chị Nguyễn Thị B M, sinh năm 1987. Trú tại: K L, Thị trấn K B, huyện Th O, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/01/2019, Phạm Thị H sinh năm 1992, trú tại thôn S L, xã B M, huyện Th O, thành phố Hà Nội đến Ki ốt số 53 là cửa hàng bán quần áo của chị Đào Thị Q sinh năm 1987 ở chợ K B, Th O, Hà Nội để trả nợ tiền. Sau khi trả nợ xong, H ngồi chơi ở đó, một lúc thì có chị Nguyễn Thị B M sinh năm 1987, trú tại: thôn K L, thị trấn K B (là người bán hàng trong chợ K B) sang chơi, khi về chị B M để quên ở sạp quần áo của chị Q một chiếc ví da màu đen. Sau đó, chị Q có việc đi ra ngoài và nhờ H trông hộ cửa hàng quần áo. Khi có một mình trong ki ốt, H nhìn thấy chiếc ví chị B M để quên nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. H đã lấy trong chiếc ví của chị B M 2.300.000 đồng và bỏ vào túi xách của mình; còn chiếc ví H bỏ lại chỗ cũ. Sau đó chị Q về ki ốt thì nhìn thấy chiếc ví da của chị B M bỏ quên nên đã mang trả lại. Khoảng 5 phút sau, chị B M chạy sang ki ốt của chị Q nói chuyện về việc mất tiền trong ví và nghi ngờ H lấy trộm. Chị B M đã đến Công an thị trấn K B trình báo sự việc.

Tại cơ quan Công an, H đã viết đơn xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài như trên. Công an thị trấn K B đã chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu cho Công an huyện Th O để giải quyết theo thẩm quyền.

Về tang vật thu giữ:

- 3.950.000 đồng (ba triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ trong túi xách của Phạm Thị H, trong đó 2.300.000 đồng là tiền H lấy trộm của chị B M, còn 1.650.000 đồng là tiền riêng của H.

Theo quyết đi ̣nh xử lý vâ ̣ t chứ ng số 12 ngày 11 tháng 3 năm 2019, Cơ quan CSĐT - công an huyê ̣n Th O đa tiến hã

̀nh trả số tiền 2.300.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp là chi ̣ Nguyễn Thi ̣ Cúc và trả số tiền 1.650.000 đồng còn lại cho Phạm Thị Hằng. Chị B M đã nhận lại số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì.

Cáo trạng số 25 ngày 25 tháng 03 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O truy tố bị cáo Phạm Thị H có lý lịch nêu trên về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung phản ánh của bản cáo trạng và đều tỏ ra ăn năn hối cải, xin được hưởng sự khoan hồng của Pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị áp dụng:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị H từ 6 đến 9 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệutrong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 19 tháng 01 năm 2019, tại Ki-ốt số 53 chợ Kim B ài, thuô ̣c thi ̣ trấn Kim Bài, huyê ̣n Th O, thành phố Hà Nô ̣i . Phạm Thị H lợi du ̣ng sơ hở của chủ sở hữu, đã có hành vi lén lútchiếm đoạt tài sản là số tiền 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị B M.

Đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Gây mất trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải được xử lý để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại người bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét cho bị cáo được cảu tạo tại địa phương với một mức hình phạt tù có điều kiện cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Vụ án trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo tính hợp pháp của các quyết định tố tụng và đảm bảo đúng trình tự tố tụng.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự

- Các Điều 106, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H 6 (sáu) tháng tù. Cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Giao bị cáo Phạm Thị H được hưởng án treo cho UBND xã B M, huyện Th O, Thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú để theo dõi giáo dục trong thời gian thử thách.

- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt. Có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND thành phố Hà Nội;

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ

- VKSND huyện Th O;

- Bị cáo;

- Ngừoi bị hại;

- Lưu:

NguyÔn B¸ Th¾ng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NguyÔn B¸ Th¾ng

Cỡ chữ