vanban.org

Bản án 18/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 19/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 6; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phan Gia H phải…

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 6; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phan Gia H phải…
  • Căn cứ chính? Điều 330 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 18/2019/HS-ST
Ngày: 19-7-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Cẩm

Ông Danh Thi

-Thư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Phan Gia H (K), sinh năm 1980 tại thành phố Th, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp 2, xã T, thành phố Th, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan H và bà Trần Thị E; Có vợ là Trần Kim L; Có con là Phan Thái V và Phan Thanh Trúc Q; Tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: tốt. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/5/2019 và chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Cơ quan tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Thuận; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thanh X, sinh năm 1991; Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện Th, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt

Người làm chứng:

- Trần Kim L, sinh năm 1984; có mặt

- Danh Kim N, sinh năm 1993; có mặt

- Trần Thị Đ, sinh năm 1955; có mặt

Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện Th, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 04/12/2018, Phan Gia H điều khiển xe mô tô đưa con ruột là Phan Thanh Trúc Q về nhà Trần Thị Đ (mẹ vợ H) tại ấp H, xã B, huyện Th, tỉnh Kiên Giang. Sau đó, giữa H và bà Đ, Trần Kim L (vợ của H đã sống ly thân) xảy ra cự cải nhau do tranh chấp về quyền nuôi con, H dùng những lời lẽ thô tục chửi bà Đ nên L tức giận dùng chén ném H nhưng không trúng, H điều khiển xe đi, L điện thoại trình báo Công an xã B đến giải quyết vụ việc. Khoảng 15 phút sau, Công an xã B phân công Nguyễn Thanh X (Công an viên phụ trách ấp H) đến giải quyết vụ việc, trong lúc đang lập biên bản sự việc thì X thấy H điều khiển xe về nên mời H vào nhà bà Đ trình bày sự việc để lập và ký biên bản, H đi vào nhưng không trình bày và nói về trụ sở Công an xã mới hợp tác nhưng thực chất là H muốn bỏ đi. Lúc này, H đi ra ngoài, X tiếp tục đi theo mời H vào làm việc, H từ chối và lên xe nổ máy điều khiển thẳng vào chổ anh X đang đứng nên X nắm chặt rổ xe lại và dùng tay rút khóa xe, ngay lúc này H dùng tay nắm cổ áo X giật mạnh làm đứt cúc áo té ngã lên xe, H cũng ngã xuống nền xi măng. H muốn lấy khóa xe để bỏ đi nên xông tới đè giật X ngã ngữa, đè lên người X dùng tay đấm liên tục nhiều cái trúng vào vùng mặt và ngực của X, sau đó được mọi người can ngăn, Công an xã B đến hỗ trợ bắt giữ H. Trong quá trình điều tra, H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Vật chứng thu giữ: Không.

Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSVT ngày 04 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận đã truy tố bị cáo Phan Gia H về tô ôi “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị tuyên bố bị cáo Phan Gia H phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Gia H từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh X không yêu cầu gì nên Viện kiểm sát không đề nghị.

- Bị cáo Phan Gia H thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Đối với việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh X đã có lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án, xét thấy việc vắng mặt họ không trở ngại đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt Nguyễn Thanh X.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Gia H đã thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố, cụ thể: Vào khoảng 19 giờ, ngày 04/12/2018 Nguyễn Thanh X là Công an viên xã phụ trách ấp (có mặc trang phục Công an xã) đến làm nhiệm vụ giải quyết việc mất trật tự tại địa phương nhưng khi được mời trình bày sự việc để lập và ký biên bản thì H không chấp hành và có hành vi dùng tay đấm liên tiếp nhiều cái vào vùng mặt và ngực của anh X nhằm cản trở anh X thực hiện công vụ. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các tài liê ôu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Phan Gia H là người có đủ năng lực chịu trách nhiê ôm hình sự. Bị cáo biết rõ anh Nguyễn Thanh X đang thi hành công vụ nhưng lại dùng vũ lực nhằm chống đối, cản trở anh X thực hiê ôn công vụ nên hành vi của bị cáo Phan Gia H đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặt phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Hành vi của bị cáo xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của lực lượng đang làm nhiệm vụ, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của người thi hành công vụ được nhà nước giao làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân, trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra lệnh cấm khỏi nơi cư trú nhưng đến khi triệu tập để làm việc thì bị cáo trốn tránh. Điều tra viên có đến gia đình động viên và giải thích về nghĩa vụ của người tham gia tố tụng để tìm bị cáo về làm việc với Cơ quan điều tra nhưng vẫn không có kết quả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra phải ra Quyết định truy nã đối với bị cáo. Do đó, cần tuyên cho bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung. Song xét thấy, bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Qua phân tích, xét thấy rằng cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xử bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tập trung để cơ quan chức năng cải tạo, giáo dục bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh X không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phan Gia H phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Gia H 06 tháng tù, tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 07/5/2019.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 6; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phan Gia H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ