- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Minh T phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 18/2019/HS-ST Ngày: 18-4-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và bà Nguyễn Thị Xuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2019/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Đoàn Minh T (Tên gọi khác: B.X) – sinh năm 1995, tại Đồng Nai
Nơi cư trú: Ấp P.D, xã P.B, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Minh K (Đã chết) và bà Lê Thị C – sinh năm 1967; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị tạm giữ từ ngày 25/11/2018 đến ngày 30/11/2018, bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/12/2018 đến ngày 28/02/2019 (có mặt).
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu T – sinh năm 1975 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp N.L 1, xã P.T, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
1/ Chị Hà Thị Ngọc C – sinh năm 1989 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Ấp 3, xã T.P 1, huyện H.N, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi sinh sống: Ấp T.T, xã P.X, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai.
2/ Chị Nguyễn Thị N – sinh ngày 01/4/2001 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Ấp 7, xã T.H, huyện L.M, tỉnh Hậu Giang.
Nơi sinh sống: Ấp T.T, xã P.X, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai.
3/ Anh Nguyễn Quang S – sinh năm 1988 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Xã T.P.T, huyện C.T A, tỉnh Hậu Giang.
Nơi sinh sống: Ấp T.T, xã P.X, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai.
4/ Anh Nguyễn Đình T – sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P.D, xã P.B, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai.
5/ Anh Lê Quang V (Tên gọi khác: D) – sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P.D, xã P.B, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai.
6/ Anh Phạm Ngọc H – sinh năm 1985 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp P.D, xã P.B, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào buổi chiều ngày 25/11/2018, Đoàn Minh T cùng với Nguyễn Đình T, Lê Quang V và Phạm Ngọc H có uống rượu ở nhà T (tại Ấp P.D, xã P.B, huyện T.P). Sau đó, T cùng với T, V và H rủ nhau đến Karaoke Happy World do chị Nguyễn Thị Thu T làm chủ (tại Ấp T.T, xã P.X, huyện T.P) để hát karaoke. Khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, chị Nguyễn Thị N (là nhân viên quán phục vụ rót bia, gắp đá cho khách hát) có xảy ra mâu thuẫn với T trong lúc nói chuyện, nên chị N đứng dậy và bỏ ra ngoài phòng hát. T thấy vậy thì nảy sinh tức giận đối với chị N nên đã lấy 01 (một) ly nhựa dùng để uống bia ném về phía chị N nhưng không trúng, mà trúng vào màn hình Tivi đang treo trên tường dùng để hát karaoke ở phía sau. Sau khi chị N đã bỏ đi ra ngoài, T tiếp tục dùng 01 (một) ly nhựa khác ném vào màn hình Tivi, làm Tivi bị vỡ màn hình. Công an xã P.X đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T. Tại cơ quan điều tra công an huyện T.P, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo Kết luận định giá tài sản số 78/KL.HĐĐGTS ngày 27/11/2018 và Công văn giải thích Kết luận định giá tài sản số 86/HĐĐGTS ngày 24/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T.P: 01 (Một) Tivi màn hình phẳng nhãn hiệu Asanzo 50 inch bị vỡ màn hình, giá trị phần bị thiệt hại sau khi đã trích khấu hao là 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Theo Cáo trạng số 21/CT-VKSTP-ĐN ngày 18/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Đoàn Minh T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Minh T mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Về biện pháp tư pháp: Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường thiệt hại và bị hại không yêu cầu gì khác, đã có đơn bãi nại về dân sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét; về xử lý vật chứng, đã trao trả cho chị Thư 01 (Một) Tivi Asanzo 50 inch bị vỡ màn hình, đề nghị tịch thu tiêu hủy 04 (Bốn) ly nhựa màu trắng đường kính 06cm cao 10cm là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị là tương xứng với hành vi của bị cáo.
Tại phiên tòa, người làm chứng Phạm Ngọc H trình bày: Vào ngày 25/11/2018, anh H có cùng bị cáo đến quán Karaoke Happy World để hát karaoke, nhưng anh không để ý nên không trực tiếp chứng kiến sự việc ai làm hư hỏng tài sản, anh chỉ chứng kiến việc Tivi có bị hư hỏng, bản thân anh không có liên quan gì đến hành vi của bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T.P, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Kết luận định giá tài sản, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản xác minh hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Biên bản tạm giữ đồ vật, phương tiện, tài sản... Như vậy, đã có đủ cơ sở đề Hội đồng xét xử xác định:
Vào khoảng 21 giờ 15 phút ngày 25/11/2018, tại quán Karaoke Happy World do chị Nguyễn Thị Minh Thư làm chủ (ở Ấp T.T, xã P.X, huyện T.P), do mâu thuẫn cá nhân với chị Nguyễn Thị N nên Đoàn Minh T đã có hành vi dùng ly nhựa uống bia để ném vỡ màn hình Tivi Asanzo 50 inch (treo trên tường dùng để hát karaoke), làm hư hỏng tài sản với giá trị phần bị thiệt hại là 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Hành vi của Đoàn Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đoàn Minh T không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra còn xem xét: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; bị hại có đơn bãi nại không yêu cầu bồi thường về dân sự. Tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về căn cứ quyết định hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.
Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ được hành vi của mình, bị cáo chỉ vì bực tức việc mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt, giao tiếp nhưng lại không kiềm chế được bản thân, đã có hành vi dùng ly ném vào Tivi làm hư hỏng tài sản của người khác với lỗi cố ý.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng; theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và bị cáo trình bày hiện nay bị cáo đang điều trị bệnh cường giáp, hạch cổ hai bên. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú phối hợp với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục cũng đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước, đồng thời cũng nhằm tạo điều kiện cho bị cáo điều trị bệnh để đảm bảo sức khỏe.
Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ 06 (sáu) ngày (từ ngày 25/11/2018 đến ngày 30/11/2018), được quy đổi thành 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ.
Về khấu trừ thu nhập đối với bị cáo: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo đang làm thuê không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét bị cáo đang làm thuê không có thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường nên bị hại Nguyễn Thị Thu Thư không yêu cầu gì khác, đã có đơn bãi nại về dân sự nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) Tivi Asanzo 50 inch bị vỡ màn hình là tài sản do chị Thư sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị Thư là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tịch thu tiêu hủy 04 (Bốn) ly nhựa màu trắng đường kính 06cm, cao 10cm là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 178; khoản 1 Điều 46; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;
- Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh T phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đoàn Minh T 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/11/2018 đến ngày 30/11/2018, được quy đổi thành 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã P.B nhận được bản sao Bản án và Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Đoàn Minh T cho Ủy ban nhân dân xã P.B, huyện T.P, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P.B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
2. Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 04 (Bốn) ly nhựa màu trắng đường kính 06cm, cao 10cm là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.P).
3. Về án phí: Bị cáo Đoàn Minh T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú; - Công an huyện T.P; - Chi cục THA dân sự huyện T.P; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |