- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Văn S-Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Bàn Văn S 18 (mười tám) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2019/HS-ST Ngày 17 - 4 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Dung
Ông Hoàng Hải An
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khánh Hòa - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo: Bàn Văn S (tên gọi khác Giàng A Phổng), sinh ngày 01 tháng 8 năm 1997 tại Phù Yên; nơi cư trú: Bản Suối Tiếu, xã Đá Đỏ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bàn Văn Nhầu; con bà: Đặng Thị Nghèo; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Năm 2010, bị UBND huyện Phù Yên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời gian 2 năm về hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo học hết lớp 6 thì nghỉ học, làm nghề lao động tự do tại địa phương; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28 tháng 01 năm 2019 đến nay; “có mặt”.
- Người bào chữa cho bị cáo Bàn Văn S: Ông Cầm Trọng Thủy, trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, bào chữa cho Bàn Văn S; “vắng mặt”.
- Bị hại: Anh Đặng Văn L, sinh năm 1973, nơi cư trú: Bản Suối Tiếu, xã Đá Đỏ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do biết gia đình anh Đặng Văn L (ở bản Suối Tiếu, xã Đá Đỏ) vào buổi tối thường để xe mô tô ở ngoài hiên nhà nên bị cáo S nảy sinh ý định chiếm đoạt. Tối ngày 27/01/2019, Bàn Văn S đến gần nhà gia đình anh Đặng Văn L đốt một đống lửa sưởi ấm để chờ cho gia đình anh L đi ngủ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi gia đình anh L đã đi ngủ. Quan sát xung quanh thấy không có người, bị cáo S đi vào bên trong hiên nhà anh L, dùng chìa khóa xe mô tô mang theo sẵn mở khóa chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave α, dắt xe ra đường, nổ máy rồi nhanh chóng rời khỏi hiện trường. Đến khoảng 13 giờ ngày 28/01/2019, khi bị cáo đang sửa xe tại quán sửa xe ở khu vực xã Gia Phù thì bị Công an phát hiện bắt giữ.
Ngày 29/01/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La quyết định trưng cầu định giá tài sản. Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/KL- ĐGTS ngày 29/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản- UBND huyện Phù Yên kết luận (Bút lục số 57): Chiếc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave α màu trắng, BKS 26D1-094.28 có trị giá là: 12.000.000đ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 17/CT – VKS - PY ngày 18/3/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Bàn Văn S về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Bàn Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Hành vi của bị cáo Bàn Văn S đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Bàn Văn S từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc xe mô tô cho anh Đặng Văn L là chủ sở hữu hợp pháp. Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe mô tô.
Người bào chữa có văn bản đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự; Đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bàn Văn S nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có điều kiện ăn học đầy đủ, nhận thức pháp luật hạn chế.
Bị hại trình bày ý kiến, đề nghị hội đồng xét xử áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác.
Kết thúc tranh luận, bị cáo trình bày lời nói sau cùng, bị cáo Bàn Văn S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Bàn Văn S khai nhận đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô của anh Đặng Văn L. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại cũng như của những người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Theo kết luận định giá tài sản, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave α của anh Đặng Văn L có trị giá 12.000.000đ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy, hành vi của bị cáo S đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội không lớn. Tuy nhiên, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ sở hữu tài sản của cá nhân, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là trái pháp luật. Tuy nhiên, do hám lợi trước mắt, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2010 bị xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời gian 2 năm về hành vi trộm cắp tài sản. Bản thân là người dân tộc ít người, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội khó khăn; trình độ học vấn thấp, học hết lớp 6 thì bỏ học ở nhà làm nghề lao động tự do. Quá trình sinh sống tại địa phương thường xuyên có hành vi trộm cắp vặt, không chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hương ước của địa phương,thường xuyên vắng mặt tại địa phương không khai báo tạm vắng (bút lục 74). Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ việc phân tích, đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, sống phụ thuộc vào bố mẹ (Bút lục số81). Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng, cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho anh Đặng Văn L là chủ sở hữu hợp pháp, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Đối với 01 chìa khóa, là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội; vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là chiếc xe mô tô, bị hại đã nhận lại. Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với bị cáo Bàn Văn S đã hết nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Bàn Văn S 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 28/01/2019).
2. Về vật chứng: Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đặng Văn L 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave α màu trắng, BKS 26D1-094.28. Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe mô tô, kích thước 5,5 cm x 2,5 cm.
3. Về án phí: Bị cáo Bàn Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/4/2019).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại (nếu có); - VKSND huyện Phù Yên; Giao - Người bào chữa (nếu có); - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Cơ quan điều tra- CA huyện ; - CQ Thi hành án hình sự; Gửi - Trại TG (nhà tạm giam); - Sở tư pháp tỉnh; - Người có QL,NVLQ (nếu có); - Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực); - Lưu: HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tân Việt THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |