vanban.org

Bản án 18/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 04/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án

treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án, ngày 04/6/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

TÒA ÁN

NHÂN DÂN H

UYỆN HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 18/2019/HS-ST Ngày 04 - 6 - 2019 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Bích. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Tố. 2. Bà Ngô Thị Thúy Hồng. Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quang - Kiểm sát viên. Ngày 04 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo: Nguyễn Thị H, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1992 tại Bình Thuận; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn L, xã Tân X, huyện H, tỉnh B; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Nguyễn Thị N (1964); có chồng: Đào Thanh V (1972) và có hai con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại, có mặt. - Người bị hại: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1988; hộ khẩu thường trú: Xóm 3, thôn Đệ Đức 2, xã H, huyện N, tỉnh B; chỗ ở: Khối 5, thị trấn B, huyện N tỉnh B, có mặt. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Quang H, sinh năm 1985; địa chỉ: Khối 5, thị trấn B, huyện H, tỉnh B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 9 giờ 00 phút ngày 13 tháng 02 năm 2019, Nguyễn Thị H đến chơi tại phòng trọ của chị Nguyễn Thị P ở khối 5, thị trấn B, huyện H, tỉnh B . Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, chị P đi đón chồng là anh Trần Quang H về phòng trọ. Lợi dụng phòng trọ của chị P không có người, H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của chị P. H đến kéo hộc tủ thấy 01 ví da màu đen, trong ví có nhiều tiền và nữ trang. Hạnh rút trong ví của chị P 24 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, tổng cộng là 12.000.000 đồng, H bỏ ví lại trong hộc tủ và giấu số tiền lấy được vào túi quần. Sau đó, H đem số tiền 12.000.000 đồng giấu tại nhà chồng là anh Đào Thanh V ở khối 5, thị trấn Bồng Sơn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Vật chứng tạm giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Nhơn đã thu hồi và trả lại cho chị P 12.000.000 đồng. Bản Cáo trạng số: 29/CT-VKSHN ngày 04 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Ý kiến của bị hại: Không yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo rất ăn năn, hối hận về việc đã làm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, lời khai của bị hại và phù hợp với những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13 tháng 02 năm 2019, tại khối 5, thị trấn Bồng Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định, lợi dụng sự tin tưởng của chị Nguyễn Thị P, bị cáo Nguyễn Thị H đã lén lút chiếm đoạt tài sản của chị P với số tiền 12.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 là có căn cứ và được chấp nhận. [2] Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Cần phải xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung. [3] Khi xem xét quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đồng thời, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có trình độ học vấn thấp, hạn chế hiểu biết pháp luật, bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Do đó, vừa tạo điều kiện để bị cáo rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội và vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nghĩ không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe. [4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoài Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. [6] Về thu giữ vật chứng: Đã tạm giữ và trả lại cho chị Nguyễn Thị P số tiền 12.000.000 đồng là đúng theo quy định của pháp luật. [7] Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét. [8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án, ngày 04/6/2019. Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo thử thách án treo. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. - Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét. - Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng để sung ngân sách Nhà nước. - Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ