vanban.org

Bản án 18/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 22/04/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Minh U phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo - Giữ nguyên bản án sơ thẩm; Phạt: Bị cáo Ngô Minh U - 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Minh U - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Minh U phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HS-PT
Ngày: 22/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các thẩm phán: Ông Lương Quang và ông Nguyễn Việt Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Nin- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa:Bà Đỗ Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 22 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 20/2019/TLPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo Ngô Minh Udo có kháng cáo của bị cáo Ngô Minh U đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2019/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Bị cáo có kháng cáo: Ngô Minh U, sinh năm 1993; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn Phú Tân 1, xã An Cư, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Minh D , sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; có vợ là Phạm Thị N, sinh năm 1996 và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 06/02/2018, Ngô Minh U đến thôn Tân Long, xã An Cư, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; vào sân nhà ông Nguyễn Văn T dắt trộm xe mô tô loại Lead nhãn hiệu Honda, biển số 78F1-281.18, trị giá 22.500.000 đồng do Ngô Thị Thu P (vợ T đứng tên chủ sở hữu), điều khiển vào tiệm cầm đồ Thành P do anh Đoàn Văn S làm chủ ở 18/02 Hòa Trung, phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa lấy 27.000.000 đồng trả nợ và tiêu xài cá nhân.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An đã tuyên Ngô Minh U phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt: Ngô Minh U - 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/01/2019, bị cáo Ngô Minh U kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Minh U vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo - Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân; khoảng 22 giờ ngày 06/02/2018 bị cáo Ngô Minh U đến thôn Tân Long, xã An Cư, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; vào sân nhà ông Nguyễn Văn T dắt trộm xe mô tô biển số 78F1-281.18, trị giá 22.500.000 đồng do Ngô Thị Thu P(vợ T đứng tên chủ sở hữu), đem đi cầm cố. Nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội.

Khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, để phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu phòng chống loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng tại địa phương. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo.

Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Minh U phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo - Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phạt: Bị cáo Ngô Minh U - 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Ngô Minh U phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ