- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị Tr và anh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Thùy Tr và anh Phạm Huy T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2019/HNGĐ-ST Ngày 05-7-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Vinh
Ông Phùng Văn Chất
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền- Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2019/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thùy Tr
Cư trú tại: Số 8B đường L, tổ dân phố Ph, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Huy T
Cư trú tại: Số 536 đường Th, tổ dân phố X, phường Đ, quận H, thành phố
Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 15 tháng 5 năm 2019, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn là chị Ngô Thùy Tr trình bày:
Về hôn nhân: Chị Ngô Thùy Tr và anh Phạm Huy T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng vào ngày 18 tháng 4 năm 2007. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với gia đình anh T tại số 536 đường Th, tổ dân phố X, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến cuối năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách, lối sống của vợ chồng không phù hợp, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung căng thẳng, không hạnh phúc. Mặt khác, anh T không quan tâm trách nhiệm đến gia đình, vợ con, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Từ tháng 5/2018 đến nay, chị Tr về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm, trách nhiệm với nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần, nhưng không kết quả. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn nên chị Tr giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh T.
Về nuôi con: Chị Tr và anh T có 02 con chung là Phạm Huy Nam Kh, sinh ngày 17/11/2007 và Phạm Huy Nhật M, sinh ngày 08/02/2015. Chị Tr yêu cầu được nuôi cả hai con. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị Tr và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản: Chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn xin trình bày ý kiến ghi ngày 11/6/2019, bị đơn là anh Phạm Huy T trình bày: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, mâu thuẫn của vợ chồng như lời trình bày của chị Tr. Anh T xét thấy không còn tình cảm với chị Tr nên đồng ý ly hôn. Về nuôi con: Anh đồng ý giao cho chị Tr nuôi dưỡng 02 con chung như yêu cầu của chị Tr. Về chia tài sản: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân quận Hải An nhận định:
- Về tố tụng:
Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về hôn nhân: Chị Ngô Thùy Tr và anh Phạm Huy T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính cách, lối sống của hai bên không phù hợp. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2018 đến nay, không còn quan tâm, trách nhiệm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Tr xác nhận không còn tình cảm với anh T, giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh T. Anh T cũng đồng ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Tr, cho ly hôn giữa chị Tr và anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con: Xét sự thống nhất nuôi con của chị Tr và anh T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của con Phạm Huy Nam Kh, phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 58, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Tr yêu cầu để hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hộị đồng xét xử không xét.
Về chia tài sản: Chị Tr và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội,
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Thùy Tr và anh Phạm Huy T.
2. Về nuôi con: Giao 02 con chung là Phạm Huy Nam Kh, sinh ngày 17/11/2007 và Phạm Huy Nhật M, sinh ngày 08/02/2015 cho chị Ngô Thùy Tr trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Tiền cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, ngườ i không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở .
3. Về án phí: Chị Ngô Thùy Tr phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Tr đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005039 ngày 27/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận Hải An; - VKSND TP. Hải Phòng; - TAND TP. Hải Phòng; - Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, Hải Phòng; - Chi cục THA DS quận Hải An; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy |