vanban.org

Bản án 18/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Bùi Xuân Tr.

Về con cái: Giao con chung là cháu Bùi Nguyễn Hải Y, sinh ngày 01/9/2008 và Bùi Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 20/10/2012 cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chị L chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Tr mỗi tháng cho mỗi cháu là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), hai cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L - Bùi Xuân Tr"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Bùi Xuân Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 4 - 2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Anh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quách Hà Vính

2. Bà Quách Thị Tình

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2019 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L; Sinh năm: 1990

Địa chỉ: Thôn Thạch Lỗi, xã Thành Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Bùi Xuân Tr; Sinh năm: 1986

Địa chỉ: Thôn Vân Du, xã Thành Vân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt chị L và anh Tr. Chị L đơn xin xét xử vắng mặt; anh Tr vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 17/01/2019, bản tự khai ngày 15/02/2019 chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Xuân Tr kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/10/2007 tại Ủy ban nhân dân (Sau đây viết tắt là UBND) xã Thành Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi cọ và đã có lần dẫn đến đánh đập. Thời gian kéo dài khiến cho vợ chồng càng thêm mệt mỏi và chán nản. Chị và anh Tr đã sống ly thân từ tháng 11/2018 đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể níu kéo được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tr.

Về con cái: Vợ chồng có hai con chung là Bùi Nguyễn Hải Y, sinh ngày 01/9/2008 và Bùi Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 20/10/2012. Hiện nay các cháu đang ở cùng anh Tr. Để tránh sự xáo trộn trong sinh hoạt và việc học tập của các cháu, ly hôn, chị L yêu cầu giao cả hai cháu cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Tr mỗi tháng cho mỗi cháu là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), hai cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng từ khi vụ án được giải quyết xong đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Bùi Xuân Tr nhưng anh Tr không có ý kiến gì, Tòa án cũng đã triệu tập anh Tr hai lần để nộp bản tự khai nhưng anh Tr đều vắng mặt nên không có lời khai của anh Tr trong hồ sơ vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Về hôn nhân, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Bùi Xuân Tr. Về con cái, giao con chung là cháu Bùi Nguyễn Hải Y, sinh ngày 01/9/2008 và Bùi Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 20/10/2012 cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Tr mỗi tháng cho mỗi cháu là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), hai cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, các quy định của pháp luật, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng như Viện kiểm sát được biết.

Cũng trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh Tr không có mặt nên tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Tr theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS. Anh Tr đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS. Tại phiên tòa, chị L vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Tr đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt chị L và anh Tr.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Xuân Tr kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 19/10/2007 tại xã Thành Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các Điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình, như vậy là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Sau khi kết hôn vợ chồng hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi cọ và đã có lần dẫn đến đánh đập. Từ tháng 11/2018 đến nay, chị L đã về bên nhà bố mẹ đẻ và vợ chồng ly thân từ đó không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Việc này đã được các cấp chính quyền xã Thành Vân xác nhận và cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà tòa án đã tiến hành thu thập tại địa phương. Nay chị L nhất quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Tr. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Bùi Xuân Tr.

Về con cái: Chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Xuân Tr có hai con chung là Bùi Nguyễn Hải Y, sinh ngày 01/9/2008 và Bùi Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 20/10/2012. Ly hôn, chị L yêu cầu được giao cả hai con cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Tr mỗi tháng cho mỗi cháu là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), hai cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân thì hai cháu luôn ở với anh Tr, bản thân cháu Hải Y cũng có nguyện vọng được ở với bố. Để tránh sự xáo trộn trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày của cháu. Nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị L, giao cả hai con cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chị L cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Tr mỗi tháng cho mỗi cháu là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), hai cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi

Về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 4 Điều 147 BLTTDS. Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Bùi Xuân Tr.

Về con cái: Giao con chung là cháu Bùi Nguyễn Hải Y, sinh ngày 01/9/2008 và Bùi Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 20/10/2012 cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chị L chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Tr mỗi tháng cho mỗi cháu là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), hai cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 4/2019 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi . Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Chị L có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Kể từ khi anh Tr có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chưa thi hành án khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng chị L còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357; Khoản 2 Điều 468 BLDS trên số tiền phải thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con. Chị L đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2016/0003535 ngày 24/01/2019, chị L còn phải nộp tiếp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Nguyễn Thị L và anh Bùi Xuân Tr. Chị L và anh Tr có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ