- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "D-L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho anh Nguyễn Văn D ly hôn với chị Phạm Thị Xuân L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DÂU TỈNH TÂY NINH ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2019/HNGĐ-ST Ngày 26-3-2019 V/v tranh chấp về ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Ninh
2. Bà Trần Ánh Nhạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Kim Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 755/2018/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp B, xã A, huyện Btỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị Phạm Thị Xuân L, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp Đ, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án của anh D trình bày: Anh và chị L tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào tháng 5 năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hiệp Thạnh, huyện Gò Dầu ngày 05-5-2015; sau khi cưới vợ chồng đi làm thuê, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2018 ly thân cho đến nay; nguyên nhân do vợ chồng không có con, kinh tế gia đình khó khăn. Nay anh yêu cầu ly hôn, con chung không có, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn chị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử nhưng vắng mặt không có lý do nên không thể hiện yêu cầu.
- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu:
+ Về tố tụng: Từ khi thu ̣ lý cho đến khi nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và anh D thực hiện đúng theo trinh t ự thủ tục do Bộ luật Tố tụng
̀
dân sự quy định. Riêng chị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị xét xử vắng mặt chị L theo điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: anh D và chị L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015 có đăng ký kết hôn; quá trình chung sống đến tháng 02 năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ly thân cho đến nay. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cho anh D và chị L ly hôn.
Về con chung không có, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu đề nghị không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng ta ̣i phiên tòa Hô ̣i đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Phạm Thị Xuân L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng vắng mặt không lý do, cho nên Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án là có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Anh D và chị L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật thừa nhận hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2018 phát sinh mâu thuẫn nên ly thân cho đến nay, nguyên nhân do vợ chồng không có con, kinh tế gia đình khó khăn. Từ khi ly thân đến nay mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Như vậy có căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử cho anh D và chị L ly hôn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: không có nên không giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phi: anh Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân
́ sự sơ thẩm theo qui đi ̣nh tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Quốc Hội; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Quốc Hội về án phí, lệ phí.
1. Về quan hệ hôn nhân: cho anh Nguyễn Văn D ly hôn với chị Phạm Thị Xuân L.
2. Về con chung: không có nên không giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh D và chị L không yêu cầu nên không giải quyết.
4. Về án phi : Anh Nguyễn Văn D chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ
́ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí do anh D đã nộp 300.000 theo biên lai thu số 0008275 ngày 24 tháng 9 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu (anh D đã nộp xong).
5. Trườ ng hợp bản án , quyết đi ̣nh được thi hành theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 2 Luâ ̣t Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự , ngườ i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyê ̣n thi hành án hoă ̣c bi ̣ cưỡng chế thi hành án theo quy đi ̣nh ta ̣i các Điều 6, 7 và 9 Luâ ̣t Thi hành án dân sự; thờ i hiê ̣u thi hành án được thực hiê ̣n theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 30 Luâ ̣t Thi hành án dân sự.
6. Anh Nguyễn Văn D, chị Phạm Thị Xuân L vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - CC.THADS huyện Gò Dầu; - Các đương sự; - UBND xã nơi ĐKý kết hôn; - Lưu: TAGD, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |