vanban.org

Bản án 18/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Bạch T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

Về nuôi con chung: bà Huỳnh Thị Bạch T được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Hạo N, sinh ngày 23-11-2015. Ông Nguyễn Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông H được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ:Huỳnh Thị Bạch T - BĐ: Nguyễn Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Bạch T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẤT ĐỎ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 02-7-2019
V/v: Yêu cầu ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ

TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Qúy Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Ánh Nguyệt.

2. Bà Dương Thị Được.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai – Thư ký TAND huyện Đất Đỏ.

- Đại diện VKSND huyện Đất Đỏ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Khuê – kiểm sát viên.

Ngày 02-7-2019, tại trụ sở TAND huyện Đất Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2019/TLST-HNGĐ ngày 22-01-2019 về tranh chấp “yêu cầu ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXX-ST ngày 21-5-2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 17/QĐ ngày 07-6-2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Huỳnh Thị Bạch T, sinh năm: 1990 (có mặt).

Địa chỉ: khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

2. Bị đơn: ông Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1993.

Địa chỉ: khu phố S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (ông H vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 16-01-2019 và quá trình tố tụng tại tòa án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bạch T trình bày: bà T và ông Nguyễn Thanh H tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn vào năm 2015. Sau khi kết hôn sống cùng với gia đình bà T, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm thường hay cãi vả, ông H không lo làm ăn ham nhậu nhẹt, không quan tâm đến gia đình. Giữa năm 2018 bà T có nộp đơn ly hôn nhưng ông H năn nỉ đoàn tụ nên bà T rút đơn cho ông H cơ hội nhưng sau đó ông H vẫn chứng nào tật đó, không thay đổi tính tình nên bà T cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn gặp nhau. Nay vì tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: bà T và ông H có 01 người con tên Nguyễn Hạo N, sinh ngày 23-11-2015, hiện con đang ở với bà T từ lúc vợ chồng ly thân. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: bà T khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với ông Nguyễn Thanh H vắng mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho ông H và giấy triệu tập ông H đến Tòa án để ghi nhận ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T nhưng ông H không đến và cũng không có văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà T và không có yêu cầu phản tố.

- Tại Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 17-5-2019 của TAND huyện Đất Đỏ, nơi vợ chồng bà T ông H sinh sống, được biết quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn thế nào thì địa phương không rõ và cũng không yêu cầu địa phương giải quyết vấn đề gì về hôn nhân.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng:

+ Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự khi tiến hành các hoạt động tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án và xác định đúng quan hệ tranh chấp của vụ án.

+ Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

+ Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và H giải, không tham gia phiên tòa sơ thẩm. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng:

- Bà Huỳnh Thị Bạch T và ông Nguyễn Thanh H chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại UBND thị trấn Đ, huyện Đất Đỏ. Nay, bà T yêu cầu ly hôn với ông H và tranh chấp về việc nuôi con nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của ông H tại thị trấn H, huyện Đất Đỏ nên Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Bị đơn ông Nguyễn Thanh H đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt ông H.

Về nội dung:

Bà Huỳnh Thị Bạch T và ông Nguyễn Thanh H chung sống với nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân này hợp pháp. Trong quá trình chung sống, bà T nhận thấy mâu thuẫn gia đình đã thật sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn. Còn ông H cố tình không đến Tòa án. Điều này chứng tỏ ông H không có thiện chí trong việc giải quyết mâu thuẫn gia đình và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông H.

- Về con chung: bà T và ông H có 01 người con tên Nguyễn Hạo N, sinh ngày 23-11-2015, hiện con đang ở với bà T từ lúc vợ chồng ly thân, sau khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con không yêu cầu ông H cấp dưỡng. Xét thấy yêu cầu của bà T là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

- Về tài sản chung và nợ chung: bà T xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: bà T phải chịu án phí theo quy định, ông H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Bạch T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

2. Về nuôi con chung: bà Huỳnh Thị Bạch T được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Hạo N, sinh ngày 23-11-2015. Ông Nguyễn Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông H được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xét đến.

4. Về án phí: bà Huỳnh Thị Bạch T phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ-ST. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 06101 ngày 16-01-2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ. Bà T đã nộp đủ án phí. Ông H không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc bản án được niên yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ