- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị Mỹ P về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” đối với anh Trần Hồng A.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2019/HNGĐ-ST Ngày 31 - 7 - 2019 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Hồng Khánh
2. Bà Lê Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên toà: Ông Trương Công Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15.7.2019 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Mỹ P, sinh năm 1998; trú tại: Thôn 5, xã K, huyện V, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: Tổ 2 thôn T, xã C, huyện V, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Bị đơn: Anh Trần Hồng A, sinh năm 1993; trú tại: Thôn 5, xã K, huyện V, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phùng Thị Mỹ P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Hồng A kết hôn vào năm 2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã k, huyện v, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, lúc chị mang thai anh A đã lớn tiếng xô đẩy chị, lúc sinh con được 4 tháng anh đã đấnh đập vô cớ và nhiều lần như vậy; chị và anh A đã ly thân, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Hồng A.
- Về con chung: Chị và anh Trần Hồng A có 01 con chung là cháu Trần Bảo H, sinh ngày 22.02.2018. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung với mức tiền 2 triệu đồng/tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có
* Trong quá trình tố tụng, anh Trần Hồng A không đến Tòa nên không có bản tự khai. Tại phiên tòa, anh Trần Hồng A có nguyện vọng đoàn tụ với chị Phùng Thị Mỹ P; nếu chị P vẫn muốn ly hôn thì anh đồng ý giao con chung là cháu Trần Bảo H, sinh ngày 22.02.2018 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng và anh cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2 triệu đồng/tháng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng đã xác định: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đối với nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để cho chị Phùng Thị Mỹ P ly hôn với anh Trần Hồng A và giao con chung là cháu Trần Bảo H, sinh ngày 22.02.2018 cho chị P được trực tiếp nuôi dưỡng, anh A cấp dưỡng nuôi con 2 triệu đồng/tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung của chị Phùng Thị Mỹ P đối với anh Trần Hồng A thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Chị Phùng Thị Mỹ P và anh Trần Hồng A đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện V, thành phố Đà Nẵng ngày 21.10.2017; đây là hôn nhân tự nguyện và đảm bảo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên được thừa nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống chị P và anh A đã phát sinh mâu thuẫn. Chị P xác định nguyên nhân là do vợ chồng chị bất đồng quan điểm sống, trong khi chị mang thai anh A đã lớn tiếng xô đẩy, lúc chị sinh con được 4 tháng anh A đã vô cớ đánh đập và nhiều lần xảy ra như vậy; hiện chị P và anh A sống ly thân nên chị yêu cầu ly hôn với anh A. Tại phiên toà, anh A có nguyện vọng đoàn tụ với chị P nhưng chị P không đồng ý. Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện vợ chồng chị P và anh A đã ly thân, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P về việc ly hôn với anh A là phù hợp.
Về con chung: Chị Phùng Thị Mỹ P và anh Trần Hồng A có 01 con chung là cháu Trần Bảo H, sinh ngày 22.02.2018. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung với mức tiền 2 triệu đồng/tháng. Anh A đồng ý giao con chung là cháu Trần Bảo H, sinh ngày 22.02.2018 cho chị P nuôi dưỡng và anh cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2 triệu đồng/tháng. Xét thấy, con chung là cháu Trần Bảo H hiện đang ở với mẹ, dưới 36 tháng tuổi nên cần được sự quan tâm, chăm sóc nuôi dưỡng của mẹ nên Hội đồng xét xử công nhận ý kiến trên của anh A. Do đó, để đảm bảo điều kiện về vật chất và tinh thần tốt nhất cho sự phát triển của cháu H, Hội đồng xét xử giao cháu Trần Bảo H, sinh ngày 22.02.2018 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh A cấp dưỡng nuôi con 2 triệu đồng/tháng là phù hợp.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phùng Thị Mỹ P và anh Trần Hồng A xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Phùng Thị Mỹ P phải chịu và án phí cấp dưỡng nuôi con anh Trần Hồng A phải chịu.
Theo những nhận định như trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị Mỹ P về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” đối với anh Trần Hồng A.
2. Xử:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Mỹ P được ly hôn với anh Trần Hồng A.
* Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Bảo H, sinh ngày 22.02.2018 cho chị Phùng Thị Mỹ P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; anh Trần Hồng A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2 triệu đồng/tháng bắt đầu từ tháng 8.2019, thời gian cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
* Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
3. Về án phí:
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) là chị P phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp theo biên lai số 2215 ngày 16.04.2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Chị P đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) anh Trần Hồng A phải chịu.
4. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND h. Hòa Vang; - Chi cục THADS h. Hòa Vang; - UBND xã Hòa Khương, h. Hòa Vang (Giấy chứng kết hôn số 97/2017, ngày 21.10.2017); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Thị Diệp |