- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị Thúy Mai.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:18/2019/HNGĐ-PT Ngày: 01-8-2019 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NINH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tông
Các Thẩm phán:
1. Ông Lâm Văn Be
2. Bà Nguyễn Thị An Tiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm, Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2019/TLPT-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”; do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 21/2019/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 28/2019/QĐ-PT ngày 09 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy Mai; sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Tổ 5, ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tân, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Lương Tấn Đạt, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: Tổ 5, ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tân, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn - chị Trần Thị Thúy Mai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 04/3/2019, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị Thúy Mai trình bày:
Chị và anh Lương Tấn Đạt chung sống năm 2000 và đăng ký kết hôn ngày 17/6/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Tân, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do anh Đạt hay uống rượu về nhà chửi bới đánh đập, xua đuổi vợ con; mặc dù chị đã nhiều lần cho anh Đạt cơ hội nhưng anh Đạt không thay đổi; chị đã về cha mẹ ruột sống khoảng tháng 01 năm 2019. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Đạt.
Chị và anh Đạt có ba con chung tên Lương Nhật Trường, sinh năm 2000 (đã thành niên); Lương Hoàng Phúc, sinh năm 2004 và Lương Phúc Lợi, sinh năm 2010. Về con chung có nguyện vọng sống chung với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng; nếu sống với chị thì chị đồng ý nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Đạt cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn – anh Lương Tấn Đạt trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Mai về thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Anh Đạt xác định anh sai nên xin chị Mai bỏ qua và hứa sẽ không uống rượu về cùng xây dựng gia đình, nuôi dưỡng con cái. Chị Mai yêu cầu được ly hôn anh Đạt không đồng ý.
Về con chung: Anh không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con chung.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 21/2019/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Thúy Mai đối với anh Lương Tấn Đạt.
Chị Mai và anh Đạt vẫn còn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
2. Về con chung: Không giải quyết;
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết;
Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02/5/2019, chị Trần Thị Thúy Mai có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu được ly hôn với anh Lương Tấn Đạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Trần Thị Thúy Mai yêu cầu được ly hôn. anh Lương Tấn Đạt đồng ý ly hôn.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự.
+ Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Đạt chị Mai thuận tình ly hôn, tự thỏa thuận chị Mai chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Lương Hoàng Phúc, Lương Phúc Lợi, không yêu cầu anh Đạt cấp dưỡng nuôi con; đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Chị Trần Thị Thúy Mai và anh Lương Tấn Đạt tự nguyện chung sống vào năm 2000 và đăng ký kết hôn ngày 17/6/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Tân, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; có ba con chung tên Lương Nhật Trường, sinh năm 2000 (đã thành niên); Lương Hoàng Phúc, sinh năm 2004 và Lương Phúc Lợi, sinh năm 2010.
Quan hệ hôn nhân của anh Đạt và chị Mai là hợp pháp.
Chị Trần Thị Thúy Mai có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu được ly hôn với anh Lương Tấn Đạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Lương Tấn Đạt đồng ý ly hôn, chị Mai và anh Đạt tự nguyện thỏa thuận như sau:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thúy Mai và anh Lương Tấn Đạt thuận tình ly hôn.
- Về nuôi con chung: Có ba người con là Lương Nhật Trường, sinh năm 2000 đã thành niên không đặt ra giải quyết; giao chị Trần Thị Thúy Mai trực tiếp nuôi hai con chung là Lương Hoàng Phúc sinh năm 2004, Lương Phúc Lợi sinh năm 2010. Chị Mai không yêu cầu anh Đạt cấp dưỡng nuôi con.
Anh Đạt có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị Mai chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, chị Mai trực tiếp nuôi hai cháu Phúc và Lợi là phù hợp nguyện vọng của hai cháu; thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308; khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị Thúy Mai.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thúy Mai và anh Lương Tấn Đạt thuận tình ly hôn.
2. Về nuôi con chung: Có ba người con là Lương Nhật Trường, sinh năm 2000 đã thành niên không đặt ra giải quyết; giao chị Trần Thị Thúy Mai trực tiếp nuôi hai con chung là Lương Hoàng Phúc sinh năm 2004, Lương Phúc Lợi sinh năm 2010. Chị Mai không yêu cầu anh Đạt cấp dưỡng nuôi con.
Anh Đạt có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thúy Mai phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006646 ngày 04/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Trần Thị Thúy Mai phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006880 ngày 02/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh TN; -TAND huyện; -Chi cục THADS huyện; - Phòng KTNV.TAT; - Các đương sự; - Lưu tập án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tông |