vanban.org

Bản án 18/2019/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 22/08/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Diễm M . Sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 188/2019/DS-ST ngày 14/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Về con chung: Giao cho Bà Lê Thị Diễm M được quyền nuôi con chung tên Phạm Thị Thanh V , sinh ngày 09/10/2016. Ông Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà M không yêu cầu. Ông T cónghĩavụgiao cháu V lại chobàM chăm sóc, nuôi dưỡng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm — đang xem Bản án 18/2019/HNGĐ-PT Tuyên án 22/08/2019
Phúc thẩm Bản án 19/2022/HNGĐ-PT Tuyên án 30/09/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Diễm M . Sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 188/2019/DS-ST ngày 14/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tốtụngdânsự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HNGĐ-PT
Ngày: 22/8/2019
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Minh Hải

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Thiện

Bà Phạm Thị Minh Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Yến Phương - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Bà Nguyễn Mỹ Duyên - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2019/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2019 về tranhchấp “ly hôn,nuôicon”

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 188/2018/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 5 năm 2019của Toàánnhân dânhuyện A , tỉnh An Giangbịkháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 280/2019/QĐ-PT ngày 10 tháng 7 năm 2019giữacácđương sự:

Nguyênđơn: BàLêThịDiễm M, sinh năm:1998. Cư trú: xã A ,huyện T ,tỉnh Đồng Tháp.

Bịđơn: ÔngPhạm Văn T , sinh năm: 1989. Cư trú: xã V ,huyện A , tỉnh An Giang.

( BàM ,ông T cùngcómặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn vàbản tự khai bà Lê Thị Diễm M , trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông T là do tự tìm hiểu, yêu thương nhau, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V ngày 30/12/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà ông T được thời gian, do không có thu nhập ổn định nên hai vợ chồng cùng nhau đi về Đồng Tháp làm công nhân được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T không muốn đi làm mà về phụ giúp gia đình nhưng bà không đồng ý nên vợ chồng phát sinh tranhcãinhiềulần,đượcgia đìnhhàngắnnhưngvẫnkhônggiảiquyếtđược.

Đến tháng 02/2019, ông T cùng cháu V về xã V và ly thân nhân đến nay. Nhiều lần gia đình hàn gắn nhưng không thành, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, có quay về chungsống cũngkhông hạnhphúcnênbàxinđược ly hônvớiông T.

Về quanhệ con chung: Bà và ông T có01 con chungtên Phạm Thị ThanhV , sinhngày 09/10/2016, từ trước đến nay do bà chăm sóc nhưng từ ngày 13/02/2019 ông T cùng cháu Vân về ở xã V , nhiều lần bà đến nhà thăm nhưng bị ông T và gia đình ông T ngăn cản. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng vìconbàvẫnchưa đủ36thángtuổi.

Vềquanhệ tài sản chung: Bàvàông T tự thỏathuậnkhông yêucầu Tòaángiải quyết.

Về quan hệ nợ chung: Bà và ông T không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng ông bà.

Ông Phạm Văn T trình bày: Về điều kiện đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn ông đồng ý với lời trình bày của bà M . Ông thừa nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nhiều lần nói chuyện cùng gia đình hàn gắn nhưng không được, vợ chồng ly thân từ tháng 02/2019 đến nay. Bà M đã nộpđơnly hôn,nhậnthấy tìnhcảm vợ chồngkhông cònnên ôngđồngýly hônvớibà M.

Về quan hệ con chung: Đồng ý với lời trình bày của bà M . Tuy nhiên, nếu Tòa án giải quyết ly hôn ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.

Vềquanhệ tài sản chung, nợ chung: Thốngnhấtvớilờitrìnhbày củabà M

Chứngcứ Tòaánthuthậpđược:

Ông Lê Hùng Tường E cha ruột của bà M trình bày: Bà M và ông T có mâu thuẫn với nhau đã lâu, ông T muốn vợ chồng cùng về nhà ông T để sinh sống nhưng bà M không đồng ý. Hai gia đình có nói chuyện nhưng không hàn gắn được, tháng 02/2019 ông T cùng cháu Vân về xã V sinh sống, bà M nhiều lần qua thăm con và muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T và gia đình ngăn cản, do quá tức giận nên bà M nộp đơn xin ly hôn và yêu cầu nuôi con. Nay bàM xinly hônvớiông T ôngkhông có ýkiếnvìcácconđãlớn,dophápluậtgiảiquyết.

Tạiphiêntòasơthẩm cácbênbảolưu ýkiếncủa mình.

Tại bản ánsơthẩm của Tòa ánnhândânhuyện A tuyên xử:Chấpnhận mộtphần yêu cầu khởikiệncủa bà Lê Thị Diễm M .

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Diễm M và ông Phạm Văn T .

Về quan hệ con chung: Ông T được tiếp tục nuôi cháu Phạm Thị Thanh V , sinh ngày 09/10/2016, công nhận sự tự nguyện của ông T về việc không yêu cầu bà M phải cấp dưỡng nuôicon chung.

Ông T và những người thân trong gia đình phải tạo điều kiện cho bà M đến thăm con chung,khôngai đượccản trởbàM thựchiệnquyềnnày.

Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con không cố định sẽ thay đổi khi có yêu cầu chính đáng của một hoặc cảhaibên.

Ngoài ra,bản áncòntuyênvề án phí vàquyềnkhángcáocủa cácđươngsự.

Ngày 22/5/2019 bà Lê Thị Diễm M có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm xem xét lại một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu ông Pham Văn T phải giao con chung tên Phạm Thị Thanh V , sinh ngày 09/10/2016 cho bà Lê Thị Diễm M nuôi dưỡng đúng theo quy định pháp luật, bà M không yêu cầuông T cấp dưỡngnuôicon chung.

Tạiphiêntòaphúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, yêucầu Tòaán chấpnhậnkháng cáo củabà.

Bị đơn trình bày: Vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết ở cấp sơthẩm, yêu cầu Tòa ánkhôngchấpnhận yêu cầukháng cáo,giữ nguyênbảnánsơthẩm.

- Đạidiện Viện Kiểm sát nhândântỉnh An Giangphát biểuýkiến:

+ Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy địnhcủaBộluật Tốtụngdânsự năm 2015.

+ Về nội dung: Do cháu My chưa tròn 36 tháng tuổi, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộluậttốtụngdânsự,chấpnhận yêucầukhángcáocủanguyênđơn,sửabảnánsơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa vàcăn cứ kếtquảtranhluậntạiphiêntòa, Hộiđồngxétxử nhậnđịnh:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Diễm M kháng cáo trong hạn luật định và có nộpf tạm ứngánphíđầy đủnên được Hội đồng xétxử chấpnhận.

Đối với yêu cầu kháng cáo của bà M thấy rằng: Ông, bà thống nhất vợ chồng có 1 con chung tên Pham Thị Thanh V . Ông, bà cũng thống nhất cháu V được mẹ chăm sóc từ nhỏ nhưngtừ tháng2/2019ông T tự ýđưa cháu Vânvề xã V sinh sốngcho tớinay mà khôngthống qua ý kiến chị M. Sau khi ly hôn, bà M và ông T đều yêu cầu được nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà M và ông T đều cung cấp được chứng cứ chứng minh thu nhập của bản thân, trình bày được điều kiện chăm sóc tốt cho V . Tuy nhiên, Trong quá trình ông T nuôi dưỡng cháu V , ông T có hành vi cản trở, gây khó khăn trong việc tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Tại phiên tòa hôm nay ông T xin được nuôi con và đồng ý cho bà M được tới lui thăm nom con chung nhưng bà M không đồng ý do trước đây ông T gây khó khăn và cản trở bà trong việc thăm con. Sau khi được Hội đồng xét xử giải thích nhiều lần về quyền và nghĩa vụ của người được trực tiếp nuôi con và người không trực tiếp nuôi con, ông T vẫn không đồng ý với yêu cầu chính đáng của bà M , hạn chế quyền và nghĩa vụ làm mẹ của bà M trong việc thăm nom, chăm sóc con chung được quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Hơn nữa ông T hiện làm ruộng cùng với gia đình và làm nghề tự do, còn bà M làm công nhân cócuộc sốngổnđịnh.

Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu V sinh ngày 09/10/2016, đến ngày xét xử cháu V chưa tròn 36 tháng tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Do cháu V chưa được 36 tháng tuổi, cần có sự quan tâm, chăm sóc trực tiếp của mẹ để cháu có sự phát triển tốt nhất về mọi mặt, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M và đề nghị của Viện Kiểm sát sửa bản án sơ thẩm giao cháu V , cho bà M đượcnuôi dưỡnglàphùhợp.

Ông T cónghĩavụgiao cháu V lại chobàM chăm sóc, nuôi dưỡng.

Bà M và các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện cho ông T trong việc thực hiện nghĩa vụ, quyền của cha mẹ đối với con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhânvàgiađình.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổingười trựctiếpnuôicontheoquiđịnh tại Điều84 của Luật Hônnhânvàgiađình.

Về cấpdưỡngnuôicon: BàM không yêucầunên ông T khôngphảicấpdưỡngnuôi con.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bà M không phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúcthẩm theo quy định.

Vì cáclẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căncứ vàokhoản 2 Điều 308,khoản1 Điều148và Điều313củaBộ luật Tốtụngdânsự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hộivề mức thu, miễn,giảm, thu,nộp,quảnlývàsử dụngánphívà lệphí Tòaán.

Xử:

- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Diễm M . Sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 188/2019/DS-ST ngày 14/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Về con chung: Giao cho Bà Lê Thị Diễm M được quyền nuôi con chung tên Phạm Thị Thanh V , sinh ngày 09/10/2016. Ông Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà M không yêu cầu.

Ông T cónghĩavụgiao cháu V lại chobàM chăm sóc, nuôi dưỡng

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc nuôi con cóthểbịthay đổidựa trêncơsởlợiíchcủa con.

- Vềánphíhônnhângiađìnhphúcthẩm:

Bà Lê Thị Diễm M được nhận lại 300.000 đổng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm theo biên lai thu số 0011311 ngày 24/5/2019 của Chi cục Thi hành ándânsự huyện An Phú,tỉnh An Giang.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực phápluậtkểtừ ngày hếtthờihạnkhángcáo, khángnghị.

Bảnánphúc thẩm có hiệu lựcpháp luậtkểtừ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định ở Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thihànhán dânsự,ngườiphảithihànhán dân sự có quyềnthỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy địnhtại Điều30 LuậtThihành án dân

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ