- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bản án dân sự"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 26, khoản 3 Điều 144, Điều 271,khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố Tụng dân sự; Các Điều 463, 470 Bộ luật dân sự; điểm b, khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TAND HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2019/DS-ST Ngày 09/10/2019 Về tranh chấp“Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN TRIỆU SƠN – TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Hợp
- Các hội thẩm nhân dân: Lê Đình Sanh và ông Hoàng Văn Ninh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 09 tháng 10 năm 2019,tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thụ lý số 63/2019/TLST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/QĐXXST-DS ngày 24/9/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1963
Địa chỉ: Thôn CL, xã TT, huyện TS, tỉnh Thanh Hóa
Bị đơn: Bà Lê Thị Th, sinh năm 1973
Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: Thôn TP, xã TT, huyện TS, tỉnh Thanh
Hóa, các đương sự đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ch trình bày: Ngày 28/12/2015 bà Lê Thị T ở thôn TP, xã TT, huyện TS, có đến vay hỏa bà số tiền 35.000.000đ để đảo nợ ngân hàng, hẹn 10 ngày thanh toán, nhưng đến nay chưa trả đồng nào, ngoài ra trong năm 2016 bà Th có mua chịu của gia đình bà bột cám lợn nhiều lần để chăn nuôi lợn với số nợ tiền cám là 58.625.000đ, hẹn đến ngày 26/9/2019 xuất lợn sẽ trả nhưng sau khi bán lợn, bà Th không trả đồng nào, tổng hai khoản bà Th còn nợ là 93.625.000đ, bà đã đòi và nhờ UBND xã Triệu Thành giải quyết nhiều lần, quá trình UBND xã Triệu Thành giải quyết bà Th cam kết ngày 30/8/2019 thanh toán đủ số nợ nhưng đến nay vẫn chây ỳ không trả, nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Th phải trả hai khoản nợ tổng cộng là 93.625.000 đồng ( Chín mươi ba triệu, sáu trăm hai lăm nghìn đồng) bà không yêu cầu lãi xuất, còn việc bà Thơ đề nghị trả mỗi tháng 500.000đ và chịu án phí bà không đồng ý.
Đối với bị đơn: Tại bản tự khai ngày 10/9/2019, biên bản hòa giải ngày 18/9/2019 và tại phiên tòa bà Th thừa nhận ngày 28/12/2015 có vay bà Chính số tiền 35.000.000đ và trong năm 2016 có mua chịu bột cám lợn nhiều lần với tổng số tiền cám còn nợ là 58.625.000đ, tổng hai khoản hiện còn nợ bà Ch là 93.625.000đ, bà nhận trách nhiệm trả đầy đủ cho bà Ch nhưng hiện tại gia đình khó khăn xin trả dần mỗi tháng 500.000đ và yêu cầu hai bên cùng chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Bị đơn bà Lê Thị Th hiện nay đang cư trú tại xã TT, huyện TS, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn.
Về nội dung: Xét giấy vay tiền 28/12/2015 và giấy nhận nợ ngày 26/9/2016 có nội dung phù hợp giao dịch dân sự vay tài sản được quy định tại Điều 463, 470 Bộ luật dân sự do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, trong giấy vay không thể hiện thời hạn trả nợ là hợp đồng không kỳ hạn, tại biên bản hòa giải của UBND xã Triệu Thành, các bên thỏa thuận ngày 30/8/2019 bà Th phải thanh toán số tiền trên cho bà Ch, nhưng bà Th không trả đồng nào.
Xét về yêu cầu trả tiền: Nguyên đơn yêu cầu bà Th trả số tiền vay và tiền nợ mua cám là 93.625.000 đồng ( Chín mươi ba triệu, sáu trăm hai lăm nghìn đồng),không yêu cầu lãi xuất, Quá trình giải quyết bà Th đã thừa nhận ngày 28/12/2015 có vay bà Ch số tiền 35.000.000đ, và trong năm 2016 có mua cám lợn chịu nhiều lần với số tiền 58.625.000đ, tổng hai khoản còn nợ bà Ch là 93.625.000đ, sự thỏa thuận của các đương sự về tổng số tiền nợ là hoàn toàn tự nguyện, như vậy bên vay đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay theo thỏa thuận vi phạm Điều 466 Bộ luật dân sự, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ch, buộc bà Lê Thị Th phải có trách nhiệm trả cho bà Ch số tiền 93.625.000 đồng (Chín mươi ba triệu, sáu trăm hai lăm nghìn đồng) bà Ch không yêu cầu lãi xuất nên không xem xét.
Việc bị đơn đề nghị được trả dần mỗi tháng 500.000đ và yêu cầu nguyên đơn chịu án phí nhưng không được nguyên đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 nghị quyết số 326/2016/QH14, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên hoàn trả lại án phí cho nguyên đơn.
Vì các lý lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 26, khoản 3 Điều 144, Điều 271,khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố Tụng dân sự; Các Điều 463, 470 Bộ luật dân sự; điểm b, khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Lê Thị Th phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ch số tiền 93.625.000 đồng (Chín mươi ba triệu, sáu trăm hai lăm nghìn đồng)
Kể từ ngày bà Chính có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Th chậm trả
tiền thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tai các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: Bị đơn bà Lê Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 4.681.250đ.(Bốn triệu sáu trăm tám mốt nghìn, hai trăm năm mươi đồng)
Hoàn trả lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ch, số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.340.000đ tại biên lại số 3691 ngày 05/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Triệu Sơn; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - CCTHADS huyện Triệu Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Đình Sanh Hoàng Văn Ninh | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hợp HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hợp |