vanban.org

Bản án 18/2019/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh H. Buộc anh Trần Hiệp M bồi thường cho anh H tổng số tiền 5.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh H cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, thì hàng tháng anh M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Không chấp nhận một phần yêu cầu của anh H yêu cầu anh M bồi thư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Yêu cầu bồi thường thiệt hại"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh H. Buộc anh Trần Hiệp M bồi thường cho anh H tổng số tiền 5.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/DS-ST
Ngày 28 – 3 – 2019
V/v yêu cầu bồi thường thiệt hại
do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Càn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Châu Trung Trực

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Trong các ngày 15 và ngày 28 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 391/2018/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc “yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Thanh H, sinh năm 2000. Cư trú tại: Ấp Đ1, xã T, huyện Đ2, tỉnh Cà Mau.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thu Đ, sinh năm 1979. Cư trú tại: Ấp Đ1, xã T, huyện Đ2, tỉnh Cà Mau – văn bản ủy quyền có xác nhận của UBND xã Tân Duyệt ngày 30/01/2019 (có mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Hiệp M, sinh năm 1992. Cư trú tại: Ấp Đ1, xã T, huyện Đ2, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của anh Trần Thanh H và lời trình bày của bà Lê Thu Đ tại phiên tòa thể hiện:

Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 14/9/2017 Trần Minh C đi bộ trên bờ ranh đất ông Trần Hiệp Th và anh Trần Văn T để đi ra vuông tôm của mẹ ruột là Phan Thị N. Do anh C rọi đèn pin vào vuông tôm của ông Th nên xảy ra cự cãi dẫn đến đánh nhau. Trong lúc này anh Trần Hiệp M (con của ông Th) xông đến và dùng sào cây tre đánh trúng nhiều cái vào vùng trán đỉnh đầu của anh C, khi nghe anh C la thì anh Trần Thanh H và anh Trần Văn Đ (con của anh C) từ trong nhà chạy ra. Khi đến nơi, anh H bị anh M dùng đoạn sào cây tre đánh trúng vào vùng đỉnh đầu bên phải thì đoạn cây vuột khỏi tay của anh M. Khi anh Đ chạy tới thì cũng bị anh M dùng tay đánh nhiều cái nhưng không gây thương tích. Anh H được gia đình đưa đến điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Đầm Dơi từ ngày 14/9/2017 đến ngày 19/9/2017.

Trong thời gian điều trị anh H đã chi các khoản tiền và bị thiệt hại như sau:

- Tổng chi phí điều trị và làm giấy y chứng:

2.425.000 đồng.

- Tiền ăn người bệnh, người nuôi và thăm bệnh:

1.500.000 đồng.

- Tiền xăng đi lại trong thời gian điều trị:

200.000 đồng.

- Tiền Taxi đi Cà Mau ngày 15/9/2017:

600.000 đồng.

- Tiền xe ôm và ăn đi bệnh viện Hoàn Mỹ ngày 10/10/2017: 630.000 đồng.

- Tiền bù đắp tổn thất tinh thần:

2.715.000 đồng.

Tổng cộng các khoản thiệt hại là: 8.070.000 đồng.

Tại phiên tòa, bà Đ xác định: Do không chứng minh được tiền xe đi Cà Mau vào ngày 15/9/2017 và qua phân tích của Hội đồng xét xử về tiền ăn trong thời gian điều trị bệnh nên bà Đ tự nguyện rút lại, không yêu cầu đối với tiền Taxi là 600.000 đồng và tiền ăn là 500.000 đồng. Do anh M trực tiếp đánh anh H dẫn đến phải đi điều trị nên bà Đ yêu cầu anh M bồi thường cho anh H tổng số tiền là 6.970.000 đồng.

* Tại phiên tòa anh Trần Hiệp M trình bày: Anh thừa nhận có dùng cây tre đánh vào vùng đầu của anh H nhưng không gây thương tích. Thương tích tỷ lệ 2% của anh H là do trong lúc xảy ra xô xát không xác định được ai gây ra; như theo lời trình bày anh H xác định tại Cơ quan điều tra là do một người lạ mặt gây ra. Do đó, với các yêu cầu của bà Đ anh chỉ đồng ý bồi thường cho anh H số tiền thuốc và các toa vé liên quan đến điều trị là 2.425.000 đồng, các khoản khác anh không đồng ý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, bà Lê Thu Đ thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh H. Bà Đ yêu cầu anh Trần Hiệp M bồi thường cho anh H tổng số tiền 6.970.000 đồng; việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này không vượt quá phạm vi khởi kiện của anh H nên được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vào 21 giờ 30 phút ngày 14/9/2017 anh Trần Minh C đi bộ trên bờ ranh đất giữa ông Trần Hiệp Th và anh Trần Văn T, anh C rọi đèn pin xuống vuông tôm của ông Th nên xảy ra cự cãi dẫn đến đánh nhau.

Theo anh H và bà Đ xác định: Khi xảy ra xô xát thì anh M dùng sào cây tre đánh vào đầu của anh C và khi anh C la thì anh H và anh Trần Văn Đ từ trong nhà chạy ra. Khi đến nơi thì anh H bị anh M dùng đoạn cây sào tre đánh vào vùng đỉnh đầu bên phải. Anh M thừa nhận có dùng cây tre đánh vào vùng đỉnh đầu của anh H nhưng không gây thương tích.

Thực tế do bị thương nên anh H đã nhập viện điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Hện Đầm Dơi từ đêm ngày 14/9/2017 đến ngày 19/9/2017 và theo Bản kết luận giám định pháp y số 40 ngày 26/4/2018 của Phân Viện Pháp y Quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh mặc dù không thấy hình ảnh nứt xương sọ và không có tỷ lệ thương tích nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh H là: 2% (hai phần trăm). Từ căn cứ đó, Viện kiểm sát rút quyết định truy tố đối với hành vi của anh M. Qua xét xử tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2018/HSST ngày 11/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi và bản án hình sự phúc thẩm số 109/2018/HSPT ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau tách phần bồi thường thiệt hại của anh H để giải quyết bằng vụ án dân sự. Do đó, trong phạm vi vụ án này Hội đồng xét xử chỉ xem xét trách nhiệm bồi thường mà không xem xét các vấn đề khác.

Xét các yêu cầu bồi thường các chi phí của anh H được (bà Đ) được quy định tại Điều 590 của Bộ luật Dân sự, tuy nhiên có một số khoản yêu cầu của anh H chưa hợp lý nên cần xem xét điều chỉnh lại như sau:

3.1. Chi phí tiền thuốc và các toa vé liên quan đến việc điều trị do anh H cung cấp là 2.431.824 đồng nhưng bà Đ yêu cầu số tiền 2.425.000 đồng thấp hơn so với toa vé thực tế nên chấp nhận đối với các chi phí này là phù hợp.

3.2. Về chi phí đi lại:

+ Anh H nhập viện điều trị từ ngày 14/9/2017 đến ngày 19/9/2017. Do đó, trong thời gian này việc phải sử dụng phương tiện đi lại nên yêu cầu của anh H đối với tiền xăng 200.000 đồng là phù hợp với thực tế, được chấp nhận.

+ Đối với tiền xem ôm đi giám định tại bệnh viện Hoàn Mỹ - Minh Hải thấy rằng: Mặc dù anh H không có chứng từ chứng minh số tiền 480.000 đồng thuê xe ôm cho 02 người đi Cà Mau nhưng qua tài liệu chứng cứ thể hiện thì vào ngày 10/10/2017 anh H có chụp X quang sọ và với số tiền trên phù hợp với giá xe ôm trên địa bàn huyện Đầm Dơi nên được chấp nhận.

Do đó, các yêu cầu này của bà Đ phù hợp với thực tế nên được chấp nhận.

3.3. Đối với chi phí ăn uống, phục hồi sức khỏe, tiền tổn thất tinh thần:

+ Theo giấy ra viện, anh H điều trị thương tích tại bệnh viện Đầm Dơi từ ngày 15/9/2017 đến ngày 19/9/2017. Do đó, thời gian này anh H cần phải có người chăm sóc nên bà Đ yêu cầu chi phí ăn uống của 02 người theo mức bình quân là 100.000 đồng/người/ngày trong thời gian 05 ngày với số tiền 1.000.000 đồng là phù hợp, được chấp nhận.

+ Ngoài ra, anh H được gia đình đưa đi chụp X quang tại Cà Mau vào ngày 10/10/2017 nên cũng phải xuất ra chi phí ăn uống trong ngày của 02 người với số tiền 150.000 đồng là phù hợp với thực tế nên được chấp nhận.

+ Về tiền tổn thất tinh thần: Mặc dù xương sọ của anh H theo kết luận giám định không bị nứt nhưng vẫn gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 2% nên anh H phải chịu tổn thất về tinh thần là thực tế có xảy ra. Do đó, để bù đắp một phần tổn thất về tinh thần cho anh H thì cần chấp nhận khoản tiền bồi thường tương ứng với 01 tháng lương cơ sở bằng 1.390.000 đồng là phù hợp với khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Dân sự. Do đó, không chấp nhận một phần về yêu cầu này của anh H (bà Đ) với số tiền 1.325.000 đồng là phù hợp.

Như vậy, tổng các khoản chi phí theo anh H yêu cầu sẽ được chấp nhận là: 2.425.000 đồng + 680.000 đồng + 1.000.000 đồng + 150.000 đồng + 1.390.000 đồng = 5.645.000 đồng.

Xét yêu cầu của các đương sự và nghĩa vụ bồi thường đối với các chi phí điều trị của anh H thấy rằng:

Theo Điều 587 của Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người gây thiệt hại được xác định tương ứng với lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau”.

Trong sự việc này, nguyên nhân dẫn đến vết thương của anh H là do khi xảy ra xô xát giữa anh C và ông Th. Anh M thừa nhận khi anh H đi đến thì anh đã dùng cây đánh vào đầu nhưng anh H nhưng không gây thương tích và cũng theo anh M thì tỷ lệ tổn thương 2% của anh H là do người khác gây ra.

Với quy định trên thì anh M phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cùng với người lạ mặt (như anh M đã xác định) cho thiệt hại thực tế của anh H theo Điều 587 của Bộ luật Dân sự. Nhưng do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người lạ mặt nên anh M phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Khi có căn cứ chứng minh được người lạ mặt đã cùng gây thương tích cho anh H thì anh M có quyền yêu cầu đối tượng này hoàn trả khoản tiền đã bồi thường tương ứng với mức độ lỗi gây ra cho anh H.

Như vậy, mặc dù anh M chỉ đồng ý bồi thường số tiền 2.425.000 đồng nhưng với sự phân tích ở trên thì anh M còn phải bồi thường các chi phí hợp lý liên quan đến việc điều trị bệnh của anh H. Do vậy, buộc anh M bồi thường tổng các chi phí hợp lý cho anh H với số tiền là 5.645.000 đồng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh H được miễn án phí đối với phần không được chấp nhận nhưng anh M phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 và khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 585, 587 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh H. Buộc anh Trần Hiệp M bồi thường cho anh H tổng số tiền 5.645.000 đồng (năm triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh H cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, thì hàng tháng anh M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của anh H yêu cầu anh M bồi thường số tiền 1.325.000 đồng (một triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) (chưa nộp).

- Miễn án phí đối với yêu cầu của anh H không được chấp nhận.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ