vanban.org

Bản án 18/2019/DS-PT — Tranh chấp đòi nhà cho thuê

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 16/05/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ Điều 163, Điều 165, Điều 166 và Điều 179 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 thang 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử: Không chấp nhấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn Thanh . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đòi nhà cho thuê — án dân sự — "V/v kiện đòi nhà đất cho ở nhờ"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ Điều 163, Điều 165, Điều 166 và Điều 179 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 163 Bộ luật Dân sự; Điều 165 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/DS-PT
Ngày 16-5- 2019
V/v kiê ̣n đòi nhà đất cho ở nhờ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thu Hương

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thi ̣ Thuy Thủy

Bà Vũ Thị Thanh Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thẩm tra viên của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2019/TLPT-DS ngày 28 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp kiê ̣n đòi nhà đất cho ở nhờ .

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân quâ ̣n Lê Chân, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1434/2019/QĐ-PT ngày 11 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1604/2019/QĐ-PT ngày 26 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H1, nơi cư trú: Tổ 27, phường VN, quận LC, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bà Nguyễn Thị S, nơi cư trú: Số 72/48, đườ ng TĐT, phường TNH, quận LC, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Anh Nguyễn Quang Th1, nơi cư trú: Số 2/18/43, phố Nguyễn Tường L, phường X, quận LC, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Chị Nguyễn Thị Th2, nơi cư trú: Số 2/18/43, phố Nguyễn Tường L, phường X, quận LC, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t

- Anh Nguyễn Quang Th3; nơi cư trú : Số 2/18/43, phố Nguyễn Tường L, phường X, quận LC, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị S , anh Nguyễn Quang Th 1, chị Nguyễn Thi ̣ Th2, anh Nguyễn Quang Th3: Bà Nguyễn Thị H1 là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 14 tháng 5 năm 2018 và Văn bản ủy quyền ngày 29 tháng 5 năm 2018); có mặt.

Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp phá p cho cá c nguyên đơn: Bà Đinh Thi ̣ Th4 là

́ Luâ ̣t sư, Văn phòng Luâ ̣t sư Hô ̣i An thuô ̣c Đoàn Luâ ̣t sư thành phố Hải Phong; có mặt̀

.

Bị đơn: Ông Đỗ Văn Th5, nơi cư trú: Số 105/96 Chợ H, phường Dư Hàng K, quận LC, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Chị Đỗ Thị Kim Th6; nơi cư trú 105/96 Chợ H, phường Dư Hàng K, quận LC, thành phố Hải Phòng là người đại diện theo ủy quyền (văn bản uỷ quyền ngày 16 tháng 02 năm 2019); có mặt.

Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp phá p cho bị đơn: Ông La Viết N là Luật sư,̃

́ Công ty TNHH MTV Nhân Ai thuô ̣́

c Đoàn Luâ ̣t sư thành phố Hải Phòng; có mă ̣t.

- Ngườ i khá ng cá o: Ông Đỗ Văn Th5 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Cụ Nguyễn Xuân Đ và cụ Phạm Thị Nh có 04 người con gồm: Ông Nguyễn Hữu B (ông B đã chết có ba con là Nguyễn Quang Th1, Nguyễn Thị Th2 và Nguyễn Quang Th3), bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn Ng (liệt sỹ, không con). Cụ Nguyễn Xuân Đ và cụ Phạm Thị Nh có 04 căn nhà và đất tại địa chỉ số 86/51 (số 132/51 cũ) Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (có trích lục thửa đất ngày 26 tháng 3 năm 1952, TTTRE FONCIER bằng khoán điền thổ số 895 Lạch Tray C, khu N tờ 4,5 thửa 115 diện tích 153m2, thửa 12 diện tích 187m2 do Trưởng ty địa chính và Công thổ thành phố cấp ngày 26 tháng 3 năm 1952 mang tên cụ Nguyễn Xuân Đ và Phạm Thị Nh). Năm 1954 cụ Nguyễn Xuân Đ và cụ Phạm Thị Nh có cho cụ Tạ Thị M và hai con cụ Tạ Thị M là ông Đỗ Văn T, ông Đỗ Văn Th5 ở thuê mô ̣t căn nhà số 86/51 (số cũ là 132/51) Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Việc cho thuê hai bên nói miệng. Năm 1957 cụ Phạm Thị Nhâm chết và năm 1981 cụ Nguyễn Xuân Đạt chết nhưng vẫn để mẹ con cụ Tạ Thị Minh ở và từ đó các con cụ Nguyễn Xuân Đạt không lấy tiền thuê nữa. Năm 1970 ông Đỗ Văn Th5 lấy vợ và chuyển đi ở nơi khác. Đến năm 1996 cụ Tạ Thị Minh chết chỉ còn lại ông Đỗ Văn T ở lại căn nhà trên một mình. Tại Biên bản thỏa thuận ngày 22 tháng 4 năm 2003 và Biên bản làm viê ̣c ngày 18 tháng 4 năm 2012 giữa các con cụ Nguyễn Xuân Đạt và ông Đỗ Văn Tiến cùng chính quyền địa phương, ông Đỗ Văn Tiến đã cam kết trao trả căn nhà nêu trên cho gia đình các con cụ Nguyễn Xuân Đạt sau khi qua đời. Vào năm 2003, căn nhà cụ Nguyễn Xuân Đạt cho gia đình ông Tiến thuê ở đã xuống cấp trầm trọng, vì vậy ngày 22 tháng 4 năm 2003 Ủy ban nhân dân phường, Hội Phụ nữ phường Dư Hàng đã mời các con cụ Nguyễn Xuân Đạt và ông Đỗ Văn Tiến đến thỏa thuận về việc xây dựng ngôi nhà mới theo chính sách xóa nhà tranh vách đất. Số tiền xây nhà do Hội Phụ nữ phường quyên góp xây dựng. Tại Biên bản thỏa thuận ngày 22 tháng 4 năm 2003 có nêu rõ “sau này việc bán hoặc sử dụng căn nhà trên của gia đình cụ Đạt có liên quan đến kinh phí của Hội Phụ nữ phường sẽ bàn bạc sau”.

Ngày 01 tháng 01 năm 2017, ông Đỗ Văn T đã chết do già yếu. Khi đó ông Đỗ Văn Th5 đã vào hương khói cho ông Đỗ Văn T và khóa cổng quản lý nhà đất trên. Gia đình bà Nguyễn Thi ̣ Hiền đã nhiều lần gặp ông Đỗ Văn Th5 để thỏa thuận đòi lại quyền sở hữu mảnh đất số 86/51 (số 132/51 cũ) Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên ông Đỗ Văn Th5 đã không hợp tác và không có ý định trao trả lại đất và căn nhà trên. Nay bà Nguyễn Thi ̣ H1 đại diện cho các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Văn Th5 trả lại nhà và đất tại địa chỉ số 86/51 (số 132/51 cũ) Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Căn nhà do Hội Phụ nữ phường Dư Hàng làm bằng kinh phi do Hội Phụ nữ phường Dư

́ Hàng quyên góp thi các con cụ Nguyễ n Xuân Đ thống nhất vớ i Hô ̣i Phu ̣ nữ phườ ng

̀ sẽ thanh toán lại cho Hội Phụ nữ phường nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Năm 1952, cụ Tạ Thị M, sinh năm 1922 (đã mất năm 1996) cùng với ông Đỗ Văn T sinh năm 1942 (đã mất năm 2017) và ông Đỗ Văn Th5, sinh năm 1948 đến sống tại nhà số 86/51 (số 132/51 cũ) Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Gia đình sống trong căn nhà đó 65 năm không hề có bất cứ sự kiện cáo tranh chấp nào với nhà bà Nguyễn Thị H1 và phường sở tại cũng chưa lần nào gọi gia đình ông Đỗ Văn Th5 và gia đình nhà bà Nguyễn Thi ̣ H1 lên để xử lý việc tranh chấp ngôi nhà 86/51 (số 132/51 cũ) Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Từ đó đến nay ông Đỗ Văn T vẫn ở đó bình thường và sau nhiều lần dọn dẹp nhà cửa (vì ông Đỗ Văn T tính cách không bình thường luôn tha rác về nhà chất đến tận nóc nhà) nên khi dọn dẹp nhà cửa đã thất lạc không còn giấy tờ nhà. Việc phường có lập biên bản về việc trao trả lại đất cho gia đình nhà cụ Nguyễn Xuân Đ thì ông Đỗ Văn Th5 không biết vì không được mời làm việc. Nay gia đình các con cụ Nguyễn Xuân Đ yêu cầu trả lại căn nhà số 86/51 (số 132/51 cũ) Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, ông Đỗ Văn Th5 không đồng ý. Vì nhà đất tại địa chỉ số: 86/51 (số cũ là 132/51) Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là nhà đất của cụ Tạ Thị M (mẹ đẻ của ông Th5) sử dụng ổn định, lâu dài từ năm 1952 cho đến khi cụ M chết (năm 1996) không có tranh chấp. Do nhà he ̣p nên năm 1970 ông Đỗ Văn Th5 lấy vợ phải chuyển đi nơi khác sinh sống. Ông Đỗ Văn Th5 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ nhà đất nêu trên từ năm 1952 đến năm 2006 ông Đỗ Văn Th5 mới cắt chuyển hộ khẩu đi nơi khác. Hơn nữa nhà trên đất số 86/51 (số cũ là 132/51) Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng hiện nay là nhà tình nghĩa do Hội Phụ nữ phường Dư Hàng quyên góp xây cho ông Đỗ Văn T, không phải nhà do gia đình bà Nguyễn Thi ̣ H1 xây dựng lên. Việc nguyên đơn cho rằng cụ Tạ Thị M thuê nhà của cụ Nguyễn Xuân Đ nhưng không có bằng chứng nào thể hiện viê ̣c thuê nhà như đồng nguyên đơn nêu. Về thửa đất mà cụ Nguyễn Xuân Đ được cấp bằng khoán và thửa đất đồng nguyên đơn đang tranh chấp khác nhau về diện tích đất (340 m2 và 46,75m2), khác nhau về loại đất (đất ruộng và đất ở) và khác nhau về thửa đất (thửa số 115;12 và thửa số 282) nên không có căn cứ để xác định thửa đất cụ Nguyễn Xuân Đ được cấp Bằng khoán năm 1948 là thửa đất nguyên đơn đang tranh chấp. Do vậy nhà và đất trên là tài sản của cụ Tạ Thị M. Cụ Tạ Thị M chết năm 1996, không có di chúc, nên tài sản là của ông Đỗ Văn T và ông Đỗ Văn Th5. Việc ông Đỗ Văn T ký Biên bản thỏa thuận ngày 22 tháng 4 năm 2003 mà không có mặt ông Đỗ Văn Th5 là không đúng. Khi đó ông Đỗ Văn T không minh mẫn, không hiểu biết pháp luật và cũng không phải là chủ sở hữu, chủ sử dụng thửa đất tại địa chỉ số 86/51 (số cũ là 132/51) Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng nên không có quyền định đoạt tài sản của cụ Tạ Thị M. Do vậy đề nghị Tòa án nhân dân quận Lê Chân bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn.

Với nội dung nêu trên tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân , thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 163, 165,166 và 179 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

Buộc ông Đỗ Văn Th5 phải trả cho bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị S, anh Nguyễn Quang Th1, chị Nguyễn Thị Th2 và anh Nguyễn Quang Th3 căn nhà cấp 4 có công trình phụ và quyền sử dụng đất tại số 86/51 Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có diện tích là 46,75m2 thuộc thửa đất số 282 tờ bản đồ số 06 bản đồ địa chính phường năm 2005 (diện tích đất này nằm trong phần diện tích đất của cụ Nguyễn Xuân Đ và cụ Phạm Thị Nh đã được Thị trưởng Hải Phòng cấp giấy phép về việc sửa chữa hay làm nhà, trích lục thửa đất ngày 26 tháng 3 năm 1952, TTTRE FONCIER bằng khoán điền thổ số 895 Lạch Tray C, khu N tờ 4,5 thửa 115 diện tích 153m2, thửa 12 diện tích 187m2 do Trưởng ty địa chính và Công thổ thành phố cấp ngày 26 tháng 3 năm 1952).

Ngoài ra bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ông Đỗ Văn Th5 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị:

- Về tố tu ̣ng:

+ Tranh chấp kiê ̣n đòi tài sản nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành đi ̣nh

giá tài sản. Tòa án sơ thẩm không yêu cầu bị đơn đưa ra giá trị tài sản. Giá trị nhà mà nguyên đơn đưa ra mang tinh ướ c lượng, không phải con số chinh xác.

́

́

+ Ông Đỗ Văn T có Biên bản thỏa thuâ ̣n 22 tháng 4 năm 2003 và Biên bản làm viê ̣c ngày 18 tháng 4 năm 2012 có nội dung : “Sau khi ông T qua đờ i thi ông B là

̀ ngườ i đại diê ̣n cho gia đinh nhận lại toà n bộ đất đai nhà ở và cá c loại tà i sản trên

̀ đất”. Ông Đỗ Văn T có con gái là Đỗ Thi ̣ Kim Ng hiê ̣n đăng ký hô ̣ khẩu thườ ng trú tại số 23, Chợ Con, phườ ng Tra ̣i Cau, quâ ̣n Lê Chân . Chị Đỗ Thị Kim Ng là người thừ a kế của ông Đỗ Văn T. Nhà 86/51 Dư Hàng đang thờ cúng ông Đỗ văn T, chị Đỗ Thị Kim Ng cùng với ông Đỗ Văn Th5 thườ ng xuyên qua la ̣i hương khói cho ông Đỗ Văn T và quản lý nhà, chị Đỗ Thị Kim Ng là người thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông Đỗ Văn T để lại. Bản án sơ thẩm không xác minh xem ông Đỗ Văn T có vợ con hay không, không đưa chị Đỗ Thị Kim Ng tham gia tố tu ̣ng làm ảnh hưở ng đến quyền lợi của chị Đỗ Thị Kim Ng.

- Về nô ̣i dung:

+ Tài liệu do nguyên đơn xuất trình thể hiê ̣n cu ̣ Nguyễn Xuân Đ là chủ sử dụng 02 thử a đất ta ̣i tờ bản đố số 4 và 5 gồm thử a 115 diê ̣n tich 340m2 và thửa 12 có diện

́ tích 187m2, loại đất ruộng nhưng đất gia đinh ông đang quản lý là thử a số 282 tờ bản

̀

đồ số 06 diê ̣n tich 46,75m2 không ghi rõ loa ̣i đất . Tòa án mặc nhiên thừa nhận diện

́ tích đất của gia đình ông là của gia đinh cu ̣ Đ là không có cơ sở.

̀

+ Nguyên đơn cho rằng ngôi nhà của cu ̣ Nguyễn Xuân Đ nhưng không biết nhà loại gì diện tích bao nhiêu, Tòa án chỉ căn cứ vào Giấy phép về việc sửa chữa nhà do Ty Công Chinh cấp ngày 12 tháng 5 năm 1952 để xác định c ó căn nhà do cụ Tạ Thị

́ M thuê là chưa chinh xác.

́

Tại phiên toà phúc thẩm:

Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp phá p cù ng n gườ i đại diê ̣n theo ủy quyền của

́ bị đơn thống nhất trình bày: Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo . Các con cụ Nguyễn Xuân Đ không có tài liê ̣u để chứ ng minh cụ Nguyễn Xuân Đ cho cu ̣ Ta ̣ Thi ̣ M thuê nhà cũng không chứ ng minh được nhà và đất tranh chấ p là của cu ̣ Nguyễn Xuân Đ vì theo tài liệu nguyên đơn cung cấp nhà đất của cu ̣ Nguyễn Xuân Đ là đất ruô ̣ng nhưng nhà đất tranh chấp la ̣i là đất thổ cư . Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không đưa con gái ông Đỗ Xuân T tham gia tố tu ̣ng, không đi ̣nh giá tài sản tranh chấp làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chị Đỗ Thị Kim Ng. Do vâ ̣y, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Ngườ i bảo vệ quyền và lợi ich hợp phá p cù ng cá c nguyên đ ơn thống nhất trình

́ bày: Tài liê ̣u mà nguyên đơn xuất trinh tr ong quá trinh giải quyết vu ̣ án , tài liệu các

̀

̀ cơ quan có thẩm quyền của đi ̣a phương cung cấp đã chứng minh được yêu cầu khởi kiện của mình là hoàn toàn có cơ sở pháp luật, hợp tình hợp lý. Đồng thời, trải qua cả một thời gian dài tiền tố tụng, quá trình sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, phía bị đơn cũng vẫn không đưa ra được bất kỳ căn cứ pháp luật nào chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quâ ̣n Lê Chân.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa có quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Các đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Đây là vụ án kiện đòi tài sản cho ở nhờ, Tòa án chỉ xem xét quyền sử dụng đất của ai và đương sự chịu án phí không có giá ngạch nên không cần phải định giá tài sản. Do là vụ án kiện đòi tài sản cho ở nhờ không phải là vụ án chia di sản thừa kế. Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Ông Đỗ Văn T lấy vợ năm 1985, năm 1986 vợ con ông Đỗ Văn T bỏ đi, không rõ địa chỉ chỉ có một mình ông Đỗ Văn T sinh sống tại nhà đất nêu trên. Chị Đỗ Thị Kim Ng chưa từng ở trên ngôi nhà đang tranh chấp nên không có quyền và nghĩa vụ trong vụ án này, nên không cần thiết phải đưa chị Đỗ Thị Kim Ng vào tham gia tố tụng.

- Về nội dung: Lờ i trinh bày của nguyên đơn phù hợp với chính lời trình bày của

̀ ông Đỗ Văn T khi còn sống tại các Biên bản làm việc ngày 18 tháng 4 năm 2012 tại trụ sở Đảng ủy số 95 Dư Hàng , phường Dư Hàng , quận Lê Chân , thành phố Hải Phòng và cũng như phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án . Có cơ sở xác định diện tích đất tại số 86/51 (nay là 132/51) Dư Hàng có diện tích khoảng 46,75m2 thuộc thửa số 282, tờ bản đồ số 06 bản đồ địa chính phường năm 2005 thuộc quyền sở hữu của cụ Nguyễn Xuân Đ và cụ Phạm Thị Nh. Việc ông Đỗ Văn Th cho rằng nhà và đất trên là của cụ Tạ Thị M nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cụ Tạ Thị M là chủ sở hữu hoặc được chủ sở hữu chuyển nhượng, tặng cho…Việc cụ Tạ Thị M, ông Đỗ Văn T ở trên đất từ năm 1954 mặc dù chiếm hữu liên tục, công khai nhưng không ngay tình, không có căn cứ pháp luật. Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi tài sản của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, kháng cáo về nội dung bản án của ông Đỗ Văn Th5 là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử giữ ngu yên bản án sơ thẩm không chấp nhâ ̣n kh áng cáo của ông Đỗ Văn Th5.

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ, cũng như lời trình bày của các đương sự, quan điểm của Viện Kiểm sát tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết : Đây là vụ án “Tranh chấp kiê ̣n đòi nhà đất cho ở nhờ ”, theo quy định tại khoản 14 Điều 26 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về nguồn gốc tài sản nhà và đất tại số 86/51 Dư Hàng, Lê Chân, Hải Phòng (trước đây là số 132/51):

Tại Bằng khoán số 895 thuộc Sổ Địa chính Hải Phòng do Trưởng phòng trước bạ thành phố thuộc Sở bảo tồn điền thổ - Văn phòng Hải Phòng (Nhà nước bảo hộ Pháp, có bản dịnh kèm theo) cấp ngày 29 tháng 9 năm 1948; Bằng khoán số 184,211 “Lạch Tray C” (TTTRE FONCIER) khu N, tờ 4,5 thửa 115,12 do Trưởng ty Địa chính và Công thổ thành phố cấp ngày 26 tháng 3 năm 1952, đều ghi chủ sở hữu là cụ Nguyễn Xuân Đ và cụ Phạm Thị Nh.

Giấy phép về việc sửa chữa hay làm nhà ngày 12 tháng 5 năm 1952 do Ty Công chinh Hải Phòng cấp thể hiê ̣n cho phép cu ̣ Nguyễn Xuân Đ được phép làm 04

́ căn nhà trên thử a đất115, 12 tổ 4, 5 khu N (sau đườ ng Dư Hàng).

Tại Trích lục thửa đất ngày 26 tháng 3 năm 1952 do Ty Đi ̣a chinh và Công

́ thổ thành phố Hải Phòng lập thể hiện thử a đất 115, 12 tổ 4, 5 khu N Bằng khoán số 184,211 “Lạch Tray C” trạch - chủ là cụ Nguyễn Xuân Đ và cụ Phạm Thị Nh có tổng diê ̣n tich là 340m2.

́

Tại C ông văn số 23 ngày 25 tháng 10 năm 2018 của Ủy ban nhân dân phường Dư Hàng và Công văn số 126 ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Lê Chân đều xác định “Thửa đất tại số 86/51(số cũ là 132/51) Dư Hàng nguyên là đất ở của cụ ông Nguyễn Xuân Đ và cụ bà Phạm Thị Nh quản lý và sử dụng từ năm 1952. Kể từ đó đến nay giấy tờ vẫn mang tên cụ Đ và cụ Nh. Gia đình cụ Đ và cụ Nh đã chuyển nhượng một số phần diện tích thửa đất và nhà ở cấp 4 cho một số hộ dân sinh sống xung quanh. Phần diện tích đất tại số 86/51 Dư Hàng có diện tích khoảng 46,75m2, thuộc thửa đất số 282, tờ bản đồ số 06 bản đồ địa chính phường năm 2005. Đến nay chưa có thông tin , bằng chứng nào về việc mảnh đất trên được bán , hay biếu tặng cho đơn vị cá nhân nào. Nhà và đất tại số 86/51 Dư Hàng hiện vẫn nằm trong phần diện tích đất của cụ ông Nguyễn Xuân Đ và cụ bà Phạm Thị Nh”.

Như vâ ̣y, vớ i các tài liê ̣u nêu trên thi có cơ sở kết luâ ̣n 46,75m2 đất (thuộc

̀

thửa đất số 282, tờ bản đồ số 06 bản đồ địa chính phường năm 2005), đi ̣a chi ̉ số 86/51 Dư Hàng là một phần của hai thửa đất 115, 12 tổ 4, 5 khu N tại Bằng khoán số 184,211 “Lạch Tray C” (TTTRE FONCIER) do Trưởng ty Địa chính và Ccông thổ thành phố cấp ngày 26 tháng 3 năm 1952 và Trích lục thửa đất ngày 26 tháng 3 năm 1952 do Ty Đi ̣a chinh và Công thổ thành phố Hải Phòng lâ ̣p thuô ̣c quyền sử dụng của

́ cụ Nguyễn Xuân Đ và cụ Phạm Thị Nh.

Ông Đỗ Văn Th5 cho rằng gia đinh ông ở trên đất từ 65 năm nay, không có

̀

tranh chấp và biên bản về việc ông Đỗ Văn T trao trả lại đất cho gia đình nhà cụ Nguyễn Xuân Đ thì ông Đỗ Văn Th5 không biết vì không được mời làm việc. Xét: Như phân tich trên thi n hà và đất tại số 86/51 Dư Hàng là một phần của hai thửa đất

́

̀ do cu ̣ Nguyễn Xuân Đ và cụ Phạm Thị Nh là chủ sở hữu, ông Đỗ Văn Th5 không có tài liệu nào để chứng minh cụ Tạ Thị M được Nhà nướ c giao hay mua của cu ̣ Nguyễn Xuân Đ và cụ Phạm Thị Nh và chính quyền đ ịa phương cũng xác nh ận cụ Nguyễn Xuân Đ, cụ Phạm Thị Nh đa chuyển nhượ̃

ng mô ̣t phần của hai thử a đất cho mô ̣t số hô ̣ xung quanh diê ̣n tich còn la ̣i ta ̣i số 86/51 Dư Hàng vẫn mang tên cu ̣ Nguyễn Xuân Đ,

́ cụ Phạm Thị Nh. Viê ̣c gia đinh ông ở từ 65 năm nay không có nghia lã ̀ đương nhiên

̀ thuô ̣c quyền sở hữu của gia đinh ông vi không thuô ̣c các trườ ng hợp được quy đi ̣nh

̀

̀

tại Điều 221 của Bô ̣ luâ ̣t Dân sự (do mua bán , tă ̣ng cho, trao đổi, tự lao đô ̣ng...... và nhà đất tại 86/51 Dư Hàng không phải là vô chủ ). Từ năm 1970, ông Đỗ Văn Th không còn ở trên đất chi cỏ ̀n ông Đỗ Văn T và cụ Tạ Thị M, đến năm 1996 cụ Tạ Thị M chết còn la ̣i mô ̣t minh ông Đỗ Văn T. Ông Đỗ Văn Th5 sinh năm 1948, cụ Tạ Thị

̀ M về ở trên đất năm 1954 lúc đó ông Đỗ Văn Th5 mớ i sáu tuổi do đó ông Đỗ Văn Th5 không phải là ngườ i trực tiếp thuê nhà của cu ̣ Nguyễn Xuân Đ và cụ Phạm Thị Nh mà là cụ Tạ Thị M thuê, ông Đỗ Văn Th5 chỉ là con theo mẹ . Năm 1970 ông Đỗ Văn Th5 đa đi ỡ

̉ chỗ khác . Từ năm 1981 thì gia đình cụ Nguyễn Xuân Đ không lấy tiền thuê nhà nữa mà cho cụ Tạ Thị M và ông Đỗ Văn T ở nhờ nên ông Đỗ Văn Th5 không còn liên quan gi đến viê ̣c thuê nhà hay ở nh ờ nhà của cụ Nguyễn Xuân Đ và

̀ Phạm Thị Nh. Chính vì vậy, năm 2003 khi Hô ̣i Phụ nữ phường quyên góp để sửa lại ngôi nhà cho ông Đỗ Xuân T ở (xóa nhà tranh) thì ông Đỗ Văn T đa kỹ ́ biên bản xác nhâ ̣n nhà đất là gia đinh cu ̣ Nguyễn Xuân Đ và được sự đồ ng ý của các con cu ̣

̀ Nguyễn Xuân Đ Hô ̣i Phụ nữ phường đã sửa chữa lại ngôi nhà cho ông Đỗ Văn T ở. Ngày 18 tháng 4 năm 2012, ông Đỗ Văn T mô ̣t lần nữa la ̣i có ý kiến và ký vào biên bản xác định nhà đất ông đang ở của của gi a đinh cu ̣ Nguyễn Xuân Đ, ông ở khi nào

̀

chết thi trả la ̣i cho gia đinh cu ̣ Nguyễn Xuân Đ. Các biên bản nêu trên đều có chính

̀

̀ quyền đi ̣a phương chứ ng kiến và xác nhâ ̣n.

Ông Đỗ Văn Th5 kháng cáo cho rằng tài liệu do nguyên đơn xuất trinh thể

̀ hiê ̣n cu ̣ Nguyễn Xuân Đ là chủ sử dụng 02 thử a đất ta ̣i tờ bản đố số 4 và 5 gồm thử a 115 diê ̣n tich 340m2 và thửa 12 có diện tích 187m2, loại đất ruộng nhưng đất gia đinh

́

̀ ông đang quản lý là thử a số 282, tờ bản đồ số 06, diê ̣n tich 46,75m2 không ghi rõ loa ̣i

́ đất. Tòa án mặc nhiên thừa nhận diện tích đất của gia đình ông là của gia đinh cu ̣ Đ là

̀ không có cơ sở . Xét: Tại trích lục thửa đất ngày 26 tháng 3 năm 1952 thể hiê ̣n hai thử a đất là đất ruô ̣ng nhưng ta ̣i G iấy phép về việc sửa chữa hay làm nhà ngày 12 tháng 5 năm 1952 do Ty Công chinh Hải Phòng cấp thi Nhà nướ c đã cho phép cu ̣

́

̀ Nguyễn Xuân Đ được phép làm 04 căn nhà trên thử a đất, như vậy hai thửa đất của cu ̣ Đ đa đượ̃

c Nhà nướ c cho phép chuyển đổi mu ̣c đich sử du ̣ng . Tại các công văn của

́

chính quyền địa phương cũng đã khẳng định thử a số 282 tờ bản đồ số 06 diê ̣n tich

́ 46,75m2 là một phần của hai thửa đất của cụ Nguyễn Xuân Đ.

Về tư cách người tham gia tố tụng:

Đối với Hội Phụ nữ phường Dư Hàng : Các đương sự đều thừa nhận ng uồn tiền sử a chữa nhà là của Hội Phụ nữ phường Dư H àng. Nhưng do ông Đỗ Văn T không phải là hô ̣i viên của Hô ̣ i Phu ̣ nữ do vâ ̣y kinh phi xây sử a nhà không phải Hô ̣i

́ phụ nữ hỗ trợ cho ông Đỗ Văn T chính vì vâ ̣y ta ̣i Biên bản thỏa thuâ ̣n ngày 22 tháng 4 năm 2003 giữa Hô ̣i Phu ̣ nữ phườ ng vớ i ông Đỗ Văn T và các con cu ̣ Đ đa thỗ

́ng nhất “sau này việc bán hoặc sử dụng ngôi nhà trên có liên quan đến kinh phí của Hội Phụ nữ phường sẽ bàn bạc sau” . Như vâ ̣y , ngôi nhà xây trên đất của cu ̣ Nguyễn Xuân Đ thuô ̣c quyền sở hữu của Hô ̣i Phu ̣ nữ phườ ng . Tuy nhiên, tại Biên bả n xác minh ngày 15 tháng 5 năm 2019, Hô ̣i phu ̣ nữ phườ ng có quan điểm trướ c mắt giao ngôi nhà cho các con cu ̣ Nguyễn Xuân Đ quản lý, về kinh phi xây sử a nhà sau này se ̃

́ tự giải quyết vớ i các con cu ̣ Nguyễn Xuân Đ và không yêu cầu Tòa án đưa vào tham gia tố tu ̣ng nên không cần thiết phải đưa Hô ̣ i Phụ nữ phường Dư Hàng tham gia tố tụng với tư cách ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan trong vu ̣ án này.

Đối vớ i bà Đỗ Thi ̣ Kim Ng (con ông Đỗ Văn T ): Theo phân tich ta ̣i các

́ mục [2], [3], [4] thì 46,75m2 đất thuộc thửa đất số 282, tờ bản đồ số 06 bản đồ địa chính phường Dư Hàng năm 2005, tại địa chỉ 86/51 Dư Hàng thuô ̣c quyền sở hữu của cụ Nguyễn Xuân Đ và Phạm Thị Nh . Theo phân tich tại tiểu mục [5.1] thì ngôi nhà

́ xây trên đất thuô ̣c quyền sở hữu của Hô ̣i Phu ̣ nữ phườ ng Dư hàng . Như vâ ̣y, nhà đất tại địa chỉ 86/51 Dư Hàng không thuô ̣c quyền sử du ̣ng và sở hữu của cu ̣ Ta ̣ Thi ̣ M và các con. Gia đinh cu ̣ Ta ̣ Thị M chỉ là người ở nhờ . Năm 1970 ông Đỗ Văn Th5 đi ở

̀ chỗ khác chi cỏ ̀n la ̣i cu ̣ Tạ Thị M và ông Đỗ Văn T. Chính quyền địa phương cũng xác nhậ n quá trinh ông Đỗ Văn T ở địa phương t hì không thấy ông Đỗ Văn T có

̀ ngườ i thân qu a la ̣i thăm hỏi . Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng thừa nhâ ̣n vợ con ông Đỗ Văn T cũng đã bỏ đi từ rất lâu không qua lại ngôi nhà trên. Sau khi cu ̣ Ta ̣ Thi ̣ M, ông Đỗ Văn T qua đờ i thi ông Đỗ Văn Th5 là

̀ ngườ i giữ chia khóa ngôi nhà . Đây không phải là vu ̣ án tranh chấp về thừ a kế tài sản ,

̀ bà Đỗ Thị Kim Ng không ở ngôi nhà có tranh chấp , nên không liên quan gi đến ngôi

̀ nhà. Vì vậy không cần thiết phải đưa bà Đỗ Thị Kim Ng tham gia vớ i tư cách ngườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.

Về đi ̣nh giá tài sản : Đây là vu ̣ án kiê ̣n đòi nhà đất cho ở nhờ là vụ án không có giá ngạch, mẹ con cụ Tạ Thị M ở nhờ không sửa chữa, viê ̣c sử a nhà là do Hô ̣i Phu ̣ nữ phườ ng quyên góp và Hô ̣i Phu ̣ nữ cũng có quan điểm se tự̃ giải quyết vớ i các con cụ Nguyễn Xuân Đ. Do vâ ̣y không cần thiết phải đi ̣nh giá tài sản.

Theo phân tich ta ̣i tiểu mu ̣c [5.1] thì ngôi nhà trên đất thuô ̣c quyền sở hữu

́ của Hội Phụ nữ phường Dư Hàng , Hô ̣i Phu ̣ nữ có quan điểm ông Đỗ Văn T đa chết,̃ ngôi nhà nằm trên đất của cu ̣ Nguyễn Xuân Đ nên Hô ̣i Phu ̣ nữ phườ ng giao la ̣i ngôi nhà cho các con cụ Nguyễn Xuân Đ quản lý, về kinh phi xây nhà sau này Hô ̣i Phu ̣ nữ

́ sẽ giải quyết với các con cu ̣ Nguyễn Xuân Đ . Như vâ ̣y Bản án sơ thẩm buô ̣c ông Đỗ Văn Th5 phải trả lại nhà đất ch o các con cu ̣ Nguyễn Xuân Đ là có cơ sở . Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhâ ̣n nên ngườ i kháng cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 14 Điều 26, Điều 147, Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 163, Điều 165, Điều 166 và Điều 179 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 thang 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Không chấp nhấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn Thanh .

Giư nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm

̃ 2018 của Tòa án nhân dân quâ ̣n Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Chấp nhâ ̣n yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

1. Buộc ông Đỗ Văn Th5 phải trả cho bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị S, anh Nguyễn Quang Th1, chị Nguyễn Thị Th2 và anh Nguyễn Quang Th3 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ và quyền sử dụng diê ̣n tich 46,75m2 đất thuộc thửa đất số 282, tờ

́

bản đồ số 06 bản đồ địa chính phường Dư Hàng năm 2005, tại địa chỉ 86/51 Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (diện tích đất này trướ c đây là mô ̣t phần của hai thử a đất 115, 12 tổ 4, 5 khu N ta ̣i Bằng khoán số 184,211 “Lạch Tray C” (TTTRE FONCIER) do Trưởng ty Địa chính và Công thổ thành phố cấp ngày 26 tháng 3 năm 1952 và Trích lục thửa đất ngày 26 tháng 3 năm 1952 do Ty Đi ̣a chinh và Công thổ thành phố Hải Phòng lâ ̣p thuô ̣c quyền sử dụng của cụ Nguyễn

́ Xuân Đ và cu ̣ Pha ̣m Thi ̣ Nh)

2. Về kinh phi xây nhà do Hô ̣i Phu ̣ nữ phườ ng Dư hàng và bà Nguyễn Thị H1,

́ bà Nguyễn Thị S, anh Nguyễn Quang Th1, chị Nguyễn Thị Th2 và anh Nguyễn Quang Th3 tự giải quyết.

3. Về án phi dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

́

Ông Đỗ Văn Th5 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền ta ̣m ứ ng án phi

́ dân sự phúc thẩm đa nô ̣̃ p theo Biên lai số 0012972 ngày 10 tháng 01 năm 2019 của Chị cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Các nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm . Hoàn trả lại bà Nguyễn Thị H1 số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 00012698 ngày 10 tháng 8 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ