vanban.org

Bản án 18/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Tuyên án 29/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm a Khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ bị bắt tạm giam 07.5.2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ CÁT
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/HSST.
Ngày: 29.8.2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Tuyết Mai.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Tô Đình Phương.

Bà: Nguyễn Thị Dung.

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Anh - Kiểm sát viên.

*

*

*

Ngày 29.8.2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2018/TLST-HS, ngày 24.7.2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐXXST-HS ngày 14.8.2018 đối với bị cáo:

Trần Văn H (Tên gọi khác: Đ); Sinh ngày: 06.7.1990 tại: Bình Định; Nơi cư trú: Thôn Phú K, xã Cát T, huyện P, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: phụ xe; Trình độ học vấn: lớp 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: không rõ họ tên và bà: Trần Thị Bích H, SN: 1963; Vợ; Con: chưa có; Tiền án; tiền sự: không;

Lịch sử bản thân: Ngày 31.12.2008 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo bản án số 88/2008/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04.8.2009, đã được xóa án tích.

Ngày 13.4.2012 bị Công an thị trấn M, huyện P, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự - an toàn xã hội về hành vi đánh nhau.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07.5.2018 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Trần Chí L, SN: 1981;(Có mặt)

Trú tại: Thôn Phú K, xã Cát T, huyện P, tỉnh Bình Định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa Trần Văn H và Trần Chí L có quan hệ cậu - cháu (mẹ H là chị ruột L), nhà H phía sau nhà L ở cùng một khu vườn thuộc Thôn Phú K, xã Cát T, huyện P, tỉnh Bình Định. Chiều ngày 11.8.2017, H đi uống bia rượu đến khoảng 22 giờ thì về nhà. Khi về, H vấp phải tường gạch xi măng phía sau nhà L nên chạy vào nhà lấy 01 cây phản (dụng cụ dùng để phát bờ, dài khoảng 1,6m, cán bằng tre tròn dài khoảng 1,15m, lưỡi phản bằng sắt dài khoảng 45cm) ra đập phá. Nghe tiếng động, L đội đèn pin trên đầu và cầm 01 cây tre dài khoảng 1,3m, đường kính 2,5 - 3cm ra phía sau nhà; thấy H đang đập phá vách tường rào nên hỏi tại sao thì H lớn tiếng chửi tục. Bực tức vì H là cháu nhưng nói tục và đập phá tường rào nhà mình, L cầm cây tre đánh trúng lưng H một cái, nhưng không gây thương tích; H quay lại đứng đối diện với L và cầm phản chém từ trên xuống, L đưa tay phải đang cầm khúc cây tre lên đỡ thì bị chém trúng mu bàn tay phải gây thương tích. Lúc này, bà Trần Thị Bích H - mẹ H, Trần Văn N - em H và bà Phạm Kiều L - vợ L chạy ra nên H cầm theo cây phản chạy trốn và vứt bỏ trên đường. Trần Chí L sau đó được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện Phù Cát đến ngày 15.8.2017 thì xuất viện. Ngày 28.8.2017, Trần Chí L có đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự.

Theo kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định thì Trần Chí L bị vết thương mu bàn tay phải gây đứt gân duỗi ngón III, IV đã điều trị. Hiện mu bàn tay phải để lại sẹo kích thước (2,5x0,3)cm, vận động các ngón tay trong giới hạn bình thường. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên hiện tại là 03%.

Sau khi khởi tố vụ án, bị cáo bỏ đi khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã và tạm đình chỉ điều tra vụ án. Đến ngày 07.5.2018, phục hồi điều tra vụ án, bị cáo để tiếp tục điều tra.

Vật chứng: Tạm giữ 01 khúc tre dài khoảng 1,3m, phần ngọn khúc tre đã bị mục gãy có đường kính 2,5cm, phần gốc khúc tre đã bị mục gãy có đường kính 3cm do Trần Chí L giao nộp. Riêng cây phản mà Trần Văn H sử dụng để gây thương tích, CQĐT đã tổ chức tìm kiếm nhưng không tìm thấy.

Về dân sự: Trần Chí L đã kê khai chi phí điều trị các khoản có và không có chứng từ, tổng cộng 5.105.799 đồng nhưng không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số: 17/CT-VKSPC, ngày 23.7.2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát truy tố bị cáo Trần Văn H về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ Luật hình sự năm 1999.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện KSND huyện Phù Cát trong phần tranh luận giữ nguyên bản cáo trạng truy tố bị cáo Trần Văn H về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Trần Văn H với mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Trong phần tự bào chữa, bị cáo Trần Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nhưng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến của vụ án đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên Tòa. Như vậy, có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:

Giữa bị cáo và người bị hại Trần Chí L có mối quan hệ cậu cháu ruột với nhau. Khoảng 22 giờ ngày 11.8.2017, sau khi uống rượu bia về, bị cáo vấp phải tường gạch xi măng phía sau nhà anh L nên chạy vào nhà lấy 01 cây phản ra đập phá. Nghe tiếng động, anh L cầm 01 cây tre ra phía sau nhà thì thấy bị cáo đang đập phá vách tường rào nên hỏi tại sao thì bị cáo lớn tiếng chửi tục. Bực tức, anh L cầm cây tre đánh trúng lưng bị cáo một cái, nhưng không gây thương tích. Lúc này, bị cáo quay lại đứng đối diện với anh L và cầm phản chém từ trên xuống trúng mu bàn tay phải gây thương tích cho anh L với tỷ lệ sức khỏe bị tổn hại là 3%.

Hành vi dùng cây phản là loại hung khí nguy hiểm chém người khác gây ra thương tích của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 104 BLHS năm 1999.

Trong vụ án này, hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, thể hiện tính xem thường pháp luật và xem thường sức khỏe của người khác. Tuy tỷ lệ thương tật của người bị hại là 03% nhưng rơi vào trường hợp dùng hung khí nguy hiểm nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999.

Xét tính chất nguy hiểm của hành vi, hậu quả thiệt hại đã xảy ra, lỗi của bị cáo đã thực hiện. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS năm 1999 là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử kết luận: bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS năm 1999. Do đó, cần phải xét xử bị cáo với mức án nghiêm minh, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần ổn định tình hình an ninh ở địa phương.

Hành vi do bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho người khác.

Xét đặc điểm nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt cho bị cáo, HĐXX thấy rằng: bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn về diễn biến của vụ án và hành vi của mình đã thực hiện, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Mặt khác, nguyên nhân xảy ra vụ án lỗi một phần là do người bị hại đã đánh bị cáo trước. Ngoài ra, người bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại không yêu cầu bồi thường nên Tòa không xét.

Về xử lý vật chứng: 01 khúc tre (hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát), xét thấy không có giá trị sử dụng, nghĩ nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm a Khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ bị bắt tạm giam 07.5.2018.

Về trách nhiệm dân sự: không

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy 01 khúc tre (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng mô tả kèm theo hồ sơ vụ án) hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Án xử sơ thẩm, công khai. Bị cáo và đương sự có liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ