vanban.org

Bản án 18/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai Tuyên án 27/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phan Minh H và Vƣơng Đình D phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Buộc bị cáo Vƣơng Đình D phải tiếp tục bồi thƣờng cho anh Nguyễn Hồng T số tiền 1.000.000 đồng; bồi thƣờng cho anh Nguyễn Văn Giang N số tiền 8.155.000 đồng và bồi thƣờng cho anh Lê Phƣớc L số tiền 2.000.000đồng. Tổng cộng là 11.155.000 đồng (mười một triệu một trăm năm lăm nghìn đồng). Kể từ ngày b…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Đình D trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phan Minh H và Vƣơng Đình D phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/HS-ST
Ngày 27/4/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân H.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn D

2. Ông Lƣu T

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh N - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị B - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2018 tại Hội trƣờng Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G, Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2018/HSST, ngày 11 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. VƢƠNG ĐÌNH D - Sinh năm 1994 tại tỉnh N; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn 5, xã H, huyện Đ, tỉnh K; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không, con ông: Vƣơng Đình H -Sinh năm: 1971 và bà Vƣơng Thị H -Sinh năm: 1973; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án: 01 tiền án vào ngày 09/02/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh K xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 06/2015/HSST. Bị can đã chấp hành án tại Trại giam GT, đến ngày 20/3/2016 chấp hành xong và về địa phƣơng sinh sống; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 06/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh K xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 01/2012/HSST. Bị can đã chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh K, đến ngày 26/6/2012 chấp hành xong và về địa phƣơng sinh sống (Đã đƣợc xóa án tích theo quy định của Nghị quyết số 41 và Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017); Gia đình có 03 anh em, nhỏ nhất sinh năm 1997, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2017 sau đó tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Đ, có mặt tại phiên tòa.

2. PHAN MINH H - Sinh năm 1983 tại tỉnh G; Nơi ĐKHKTT: Thôn 3, xã Biển Hồ, thành phố P, tỉnh G; Chỗ ở: Tổ 12, Phƣờng Y, thành phố P, tỉnh G; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;tôn giáo: Phật giáo, con ông Phan Văn A (Đã chết) và bà Phạm Thị T - Sinh năm: 1955; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 15/01/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 14/2014/HSST. Bị can đã chấp hành án tại Trại giam GT, đến ngày 31/8/2015 chấp hành xong và về địa phƣơng sinh sống (Đã đƣợc xóa án tích theo quy định của Nghị quyết số 41 và Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017). Ngày 22/12/2015, bị Công an Phƣờng Y, thành phố P, tỉnh G xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc và đã nộp phạt ngày 01/01/2016 (Đƣợc coi là chƣa bị xử lý vi phạm hành chính); Gia đình bị cáo có 09 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1997. Bị can là con thứ 3 trong gia đình, bị cáo chƣa có vợ con; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2017 sau đó tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Đ, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Anh R, sinh năm 1992

Địa chỉ: Làng D, xã H, huyện Đ, tỉnh G. Có mặt

- Cháu Nguyễn Trịnh Khánh N, sinh ngày 26/02/2005. Vắng mặt

Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Trịnh Khánh N: Anh Nguyễn Văn Giang N, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh G. Có mặt

- Cháu Nguyễn Nhật N, sinh ngày 30/8/2009. Vắng mặt

Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Nhật N: Anh Nguyễn Hồng T, sinh năm 1976

Địa chỉ: Tổ dân phố 9, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh G.

Anh T vắng mặt có lý do.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê Phƣớc L, sinh năm 1970

Địa chỉ: 30 LG, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Quốc D, sinh năm 1985

Địa chỉ: Tổ 14, phƣờng Y, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.

- Anh Dƣơng Hồng T, sinh năm 1988

Địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện I, tỉnh G. Có mặt.

- Chị Vƣơng Thị D, sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn 5, xã H, huyện Đăh Hà, tỉnh K. Vắng mặt.

- Anh Trần Đức P, sinh năm 1971

Địa chỉ: Tổ 16, phƣờng Y, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.

* Người phiên dịch: Ông J

Địa chỉ: Làng K, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh G. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 09/8/2017, Vƣơng Đình D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, biển số 82B1-519.30 đi từ xã I, huyện I, tỉnh G đến thị trấn Đ, tỉnh G với mục đích lợi dụng sơ hở của ngƣời khác để trộm cắp hoặc lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi đi qua trƣớc nhà của gia đình anh Nguyễn Văn Giang N (Sinh năm 1984) tại Thôn 2, thị trấn Đ thấy nhà mở cửa và chỉ có con anh Nam là cháu Nguyễn Trịnh Khánh N (Sinh năm 2005) đang chơi trong nhà nên D điều khiển xe đi vào sân nhà anh Nam. D hỏi cháu N: “Bố mẹ có ở nhà không?”, cháu N trả lời:“Bố mẹ cháu đi làm chưa về”. D nhìn thấy ở bên hiên nhà có một số bao tải đƣợc xếp chồng lên nhau nên hỏi cháu N:“Bao gì đây” thì cháu N trả lời:“Bao phấn hoa”. Lúc này, D nảy sinh ý định giả làm ngƣời quen của bố mẹ cháu N để đánh lừa cháu nhằm chiếm đoạt những bao phấn hoa này. D lấy trong túi quần ra một Giấy phép lái xe mang tên Trần Đức P mà D đã nhặt đƣợc trƣớc đó đƣa cho cháu N và nói: “Cầm cái này đưa cho bố là bố biết”, rồi D vác một bao phấn hoa đặt lên xe và điều khiển xe chạy về hƣớng huyện I. Khi đi đến dốc Làng N, xã I, huyện I, tỉnh G, D cất giấu bao phấn hoa tại bụi cây gần đƣờng đi giáp với lô cà phê. D điều khiển xe mô tô đi đến nhà anh Dƣơng Hồng T (Sinh năm 1988) tại thôn T, xã I, huyện I để chơi. Tại đây, D hỏi anh T: “Anh có ăn phấn hoa không”, anh T hỏi: “Em lấy ở đâu” thì D nói: “Người ta cho em”, anh Thái nói: “Có thì cho anh một ít” nên D cầm túi nilong và điều khiển xe mô tô quay lại lấy một ít phấn hoa mang về đƣa cho anh T. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì trời đổ mƣa, D nghĩ bao phấn hoa đã bị ƣớt nên không quay lại lấy.Trong khi đó, sau khi phát hiện bị mất một bao phấn hoa, anh Nguyễn Văn Giang N đã làm đơn trình báo đến Công an huyện Đ.

Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 03/9/2017, Vƣơng Đình D điều khiển xe mô tô biển số 82B1-519.30 đến tiệm cắt tóc của Phan Minh H tại Tổ 12, phƣờng Y, thành phố P, tỉnh G để chơi. Khoảng 10 phút sau, H rủ D đi trộm cắp tài sản và D đồng ý. H điều khiển xe mô tô 82B1-519.30 chở D ngồi sau đi theo đƣờng P H qua xã H để đến thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh G. Khi đi đến địa phận làng D, xã H, huyện Đ, phát hiện thấy nhà ông R (sinh năm 1967) mở cổng nên H dừng xe đứng ở ngoài đƣờng còn D đi vào nhà bằng cửa hông. D cất tiếng gọi nhƣng không thấy có ngƣời trả lời nên đi vào trong nhà. D phát hiện thấy có một chiếc túi da dài màu đen, bên trong có đựng đồ vật giống chiếc đàn nên đã cầm chiếc túi đi ra nơi H đang đứng chờ. H điều khiển xe chở D chạy quay lại theo hƣớng về thành phố P. Trên đƣờng đi, D kéo khóa chiếc túi thấy có một chiếc đàn Organ nên hỏi H:“Có chỗ nào để bán đàn không”. H nói: “Để hỏi ông anh chơi nhạc” rồi điều khiển xe đi đến nhà chị gái của H là chị Phan Thị Xuân H (sinh năm 1981) tại số 26 đƣờng L G, phƣờng Y, thành phố P, tỉnh G. Do biết anh Lê Phƣớc L (sinh năm 1970, trú tại số 30 đƣờng L G, phƣờng Y, thành phố P, tỉnh G) là ngƣời chơi nhạc nên H đi bộ sang nhà để hỏi anh L có mua đàn hay không rồi dẫn anh L sang nhà chị gái của H để xem đàn. Anh L hỏi D: “Đàn này ở đâu?” thì D trả lời:“Đàn của anh trai cho đi bán để lấy tiền sửa xe” nên anh L đồng ý mua với số tiền 3.200.000 đồng. Để đảm bảo việc mua bán nên anh L đã nói với D viết một tờ Giấy mƣợn tiền và thế chấp lại cây đàn, nếu không chuộc lại thì anh L có quyền sở hữu cây đàn. D đồng ý nên anh L trực tiếp viết Giấy mƣợn tiền rồi đƣa cho D ký tên. Lúc này, vì sợ anh L phát hiện ra lai lịch của mình nên D đã ký tên vào giấy mƣợn tiền với tên giả là Nguyễn Việt Đ. Anh L đƣa cho D số tiền 3.200.000 đồng và cho H 200.000 đồng tiền công môi giới. Sau đó, D và H đi uống cà phê và ăn uống hết 200.000 đồng, D chia cho H 1.000.000 đồng. Còn lại 2.000.000 đồng, D cất giữ và tiêu xài hết.

Sau khi phát hiện chiếc đàn của mình bị mất thì anh R đã làm đơn trình báo Công an huyện Đ và tiến hành đi tìm kiếm. Đến ngày 04/9/2017, biết đƣợc chiếc đàn của mình đang ở nhà anh Lê Phƣớc L nên anh R đã báo cáo Công an huyện Đ đến làm việc và thu giữ chiếc đàn để xử lý.

Vụ thứ ba: Khoảng 09 giờ ngày 05/9/2017, D điều khiển xe mô tô biển số 82B1-519.30 đến tiệm cắt tóc của H để rủ H đi tìm ngƣời sở hở để chiếm đoạt tài sản. H đồng ý và điều khiển xe mô tô trên chở D đi xuống khu vực huyện Đ. Khi đi đến nhà của gia đình anh Nguyễn Hồng T (Sinh năm 1976) tại Tổ dân phố 9, thị trấn Đ, phát hiện thấy nhà mở cửa nên D nói H điều khiển xe quay lại với mục đích tìm cách chiếm đoạt tài sản. H dừng xe đứng ở ngoài cổng còn D đi vào nhà thấy con anh T là cháu Nguyễn Nhật N (sinh năm 2007) đang chơi trong nhà. D nảy sinh ý định giả làm ngƣời quen của bố mẹ cháu N nhằm tìm cách đánh lừa cháu để chiếm đoạt tài sản. D hỏi cháu N:“Bố mẹ có nhà không”, cháu N nói:“Bố mẹ cháu đi làm chưa về”, D hỏi: “Bố mẹ có để điện thoại ở nhà không”, cháu N trả lời:“Không”, D tiếp tục hỏi:“Bố mẹ có để máy tính ở nhà không”. Lúc này, cháu N tƣởng D là ngƣời quen của bố mẹ nên dẫn đi vào phòng ngủ của gia đình lấy ra 01 túi xách màu đen đƣa cho D. D cầm túi xách mang ra phòng khách kiểm tra thì thấy bên trong có một chiếc máy tính xách tay màu xám đen. Lúc này, D thấy trên bàn uống nƣớc có một chiếc khay bằng gỗ nên cầm chiếc khay gỗ trên cùng chiếc máy tính xách tay đi ra nơi H đang đứng chờ. H điều khiển xe mô tô chở D mang tài sản vừa chiếm đoạt đƣợc về tiệm hớt tóc của H. Tại đây, thấy khay gỗ đẹp nên H nói D để lại cho H sử dụng và D đồng ý. D mang chiếc máy tính xách tay ra khởi động nhƣng không hoạt động nên cùng H mang đến tiệm sửa chữa máy tính của Nguyễn Quốc D (Sinh năm 1985) tại Tổ 14, phƣờng Y, thành phố P để sửa. Tuy nhiên, do máy tính đã bị hƣ hỏng nặng nên H và D đã thỏa thuận bán lại cho anh Nguyễn Quốc D với số tiền 1.000.000 đồng. Số tiền này D và H chia nhau mỗi ngƣời 500.000 đồng tiêu xài hết. Sau khi mua chiếc máy tính trên, anh Nguyễn Quốc D đã tháo phần cứng và Ram của máy tính để thay cho máy tính khác của khách hàng với giá 800.000 đồng, phần còn lại anh D đã bán phế liệu đƣợc 300.000 đồng. Sau khi phát hiện tài sản bị chiếm đoạt, anh Nguyễn Hồng T đã làm đơn trình báo đến Công an huyện Đ.

Căn cứ vào lời khai của anh Lê Phƣớc L và hình ảnh đƣợc trích xuất từ camera an ninh khu vực gia đình ông Rin, ngày 15/9/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã bắt khẩn cấp đối với Phan Minh H và Vƣơng Đình D. Đồng thời thu giữ của Vƣơng Đình D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, biển số 82B1-519.30. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ các tang, tài vật khác gồm: Thu giữ một khay bằng gỗ tại tiệm hớt tóc của Phan Minh H; anh Dƣơng Hồng T giao nộp 300 gram phấn hoa; anh Nguyễn Quốc D giao nộp 01 túi xách hiệu Samsonite và 100.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam (tiền chênh lệch do mua bán máy tính); anh Lê Phƣớc L giao nộp 01 cây đàn Organ hiệu KorgPa 300 và một tờ giấy vay mƣợn tiền; anh Nguyễn Văn Giang N giao nộp 01 Giấy phép lái xe mô tô mang tên Trần Đức P.

Qua định giá, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 bao phấn hoa có trọng lƣợng 70kg có trị giá 11.200.000 đồng; 01 chiếc đàn Organ nhãn hiệu KorgPa 300 có trị giá 8.000.000 đồng; 01 máy tính xách tay hiệu Dell Latitude đã bị hƣ hỏng phần cứng có trị giá 2.000.000 đồng; 01 túi xách hiệu Samsonite có trị giá 50.000 đồng và một khay trà bằng gỗ đục hình cá chép, hình rồng, kích thƣớc dài 54cm, rộng 38cm, cao 15cm có trị giá 4.000.000 đồng.

2. Các vấn đề khác: Qua điều tra xác định: Chiếc đàn Organ nhãn hiệu KorgPa 300 thuộc sở hữu của anh R; chiếc túi xách hiệu Samsonite và 01 khay trà bằng gỗ thuộc sở hữu của anh Nguyễn Hồng T và 300 gram phấn hoa thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn Giang N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra quyết định trả lại cho các chủ sở hữu theo quy định. Riêng chiếc máy tính xách tay hiệu Dell Latitude, sau khi mua lại thì anh Nguyễn Quốc D đã tháo rời và lấy một số bộ phận để thay cho máy tính khác, phần còn lại anh D đã bán phế liệu nên không thu giữ đƣợc; 01 bao phấn hoa mà Vƣơng Đình D cất giấu tại làng N, xã I, huyện I, tỉnh G đã bị mất nên không thu giữ đƣợc.

Đối với 01 Giấy phép lái xe mang tên Trần Đức P mà Vƣơng Đình D sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định: Giấy phép lái xe trên là của anh Trần Đức P (Sinh năm: 1971, trú tại Tổ 16, phƣờng Y, thành phố P, tỉnh G) bị mất vào tháng 7 năm 2017. Việc Vƣơng Đình D nhặt đƣợc và sử dụng Giấy phép lái xe này vào việc phạm tội, anh Phú không biết nên không có cơ sở để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại Giấy phép lái xe này cho anh Phú.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, biển số 82B1-519.30 mà Vƣơng Đình D và Phan Minh H sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội. Qua điều tra xác định chiếc xe này do em gái của Vƣơng Đình D là Vƣơng Thị D (Sinh năm: 1995, trú tại Thôn 5, xã H, huyện Đ, tỉnh K) làm chủ sở hữu. Việc Vƣơng Đình D có mƣợn chiếc xe trên nhƣng sau đó sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội, chị D không biết nên không có căn cứ để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe này cho chị D.

3. Cáo trạng của viện kiểm sát: Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS, ngày 02/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G đã truy tố các bị cáo PHAN MINH H và VƢƠNG ĐÌNH D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Phan Minh H và Vƣơng Đình D theo nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vƣơng Đình D phạm và Phan Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, r ,s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Vƣơng Đình D 18 đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Căn cứ khoản 1 điều 174; các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 điều 51; các điểm g, h, i khoản 1 điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Vƣơng Đình D 28 đến 32 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Căn cứ điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt chung đối với cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành theo quy định.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, r ,s khoản 1 điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Phan Minh H 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Căn cứ khoản 1 điều 174; các điểm b, r, s khoản 1 điều 51; điểm i khoản 1 điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Phan Minh H 12 đến 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Căn cứ điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt chung đối với cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành theo quy định.

Về dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự năm 2015

Buộc bị cáo Vƣơng Đình D phải tiếp tục bồi thƣờng cho anh Nguyễn Hồng T số tiền 1.000.000 đồng; bồi thƣờng cho anh Nguyễn Văn Giang N số tiền 8.155.000 đồng và bồi thƣờng cho anh Lê Phƣớc L số tiền 2.000.000đồng. Tổng cộng là 11.155.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc số tiền 100.000 đồng

Về án phí, các bị cáo H và D phải chịu án hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng cũng nhƣ lời khai của những ngƣời tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo, lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo D và H phạm tội nhƣ sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 09/8/2017, Vƣơng Đình D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, biển số 82B1-519.30 đi từ xã I, huyện I, tỉnh G đến thị trấn Đ, tỉnh G với mục đích lợi dụng sơ hở của ngƣời khác để trộm cắp hoặc lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tại nhà anh Nguyễn Văn Giang N (Sinh năm 1984) tại Thôn 2, thị trấn Đ, D đã có hành vi gian dối giả làm ngƣời quen của bố mẹ đối với con anh N là cháu Nguyễn Trịnh Khánh N (Sinh năm 2005) để chiếm đoạt 01 bao phấn hoa.

Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 03/9/2017, Vƣơng Đình D điều khiển xe mô tô biển số 82B1-519.30 đến tiệm cắt tóc của Phan Minh H tại Tổ 12, phƣờng Y, thành phố P, tỉnh G để chơi. Khoảng 10 phút sau, H rủ D đi trộm cắp tài sản và D đồng ý. H điều khiển xe mô tô 82B1-519.30 chở D ngồi sau đi theo đƣờng Phạm H qua xã H để đến thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh G. Khi đi đến địa phận làng D, xã H, huyện Đ, phát hiện thấy nhà ông R (sinh năm 1967) mở cổng nên H dừng xe đứng ở ngoài đƣờng còn D đi vào nhà bằng cửa hông. Tại đây, các bị cáo đã trộm cắp một chiếc túi trong đó có một chiếc đàn Organ và sau đó đem bán cho anh Lê Phƣớc L (sinh năm 1970, trú tại số 30 đƣờng L G, phƣờng Y, thành phố P, tỉnh G) với số tiền 3.200.000 đồng, khi mua đàn anh Long có cho H số tiến 200.000 đồng tiền công môi giới. Tổng số tiền 3.200.000đ bán đàn, D và H đi uống cà phê và ăn uống hết 200.000 đồng, D chia cho H 1.000.000 đồng. Còn lại 2.000.000 đồng, D cất giữ và tiêu xài hết.

Vụ thứ ba: Khoảng 09 giờ ngày 05/9/2017, D điều khiển xe mô tô biển số 82B1-519.30 đến tiệm cắt tóc của Phan Minh H, rủ H đi tìm ngƣời sở hở để chiếm đoạt tài sản. H đồng ý và điều khiển xe mô tô trên chở D đi xuống khu vực huyện Đ. Tại nhà anh Nguyễn Hồng T (Sinh năm 1976) tại Tổ dân phố 9, thị trấn Đ, cũng bằng hành vi gian dối giả làm ngƣời quen của bố mẹ đối với con anh T là cháu Nguyễn Nhật N (sinh năm 2007), D và H đã chiếm đoạt tài sản là 01 túi xách màu đen bên trong có một chiếc máy tính xách tay màu xám đen và một chiếc khay bằng gỗ. H nói D để lại cho H sử dụng chiếc khay bằng gỗ còn chiếc máy tính xách tay đã bị hƣ hỏng nặng nên H và D đã thỏa thuận bán lại cho anh Nguyễn Quốc D với số tiền 1.000.000 đồng. Số tiền này D và H chia nhau mỗi ngƣời 500.000 đồng tiêu xài hết. Sau khi mua chiếc máy tính trên, anh Nguyễn Quốc D đã tháo phần cứng và Ram của máy tính để thay cho máy tính khác của khách hàng với giá 800.000 đồng, phần còn lại anh D đã bán phế liệu đƣợc 300.000 đồng.

Qua định giá, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 bao phấn hoa có trọng lƣợng 70kg có trị giá 11.200.000 đồng; 01 chiếc đàn Organ nhãn hiệu KorgPa 300 có trị giá 8.000.000 đồng; 01 máy tính xách tay hiệu Dell Latitude đã bị hƣ hỏng phần cứng có trị giá 2.000.000 đồng; 01 túi xách hiệu Samsonite có trị giá 50.000 đồng và một khay trà bằng gỗ đục hình cá chép, hình rồng, kích thƣớc dài 54cm, rộng 38cm, cao 15cm có trị giá 4.000.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo Phan Minh H và Vƣơng Đình D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố đối với các bị cáo là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; các bị cáo hoàn toàn nhận thức đƣợc hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện thể hiện sự coi thƣờng pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhƣng khi thực hiện hành vi các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công từ trƣớc nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đối với các bị cáo thì cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án này, cụ thể:

Đối với bị cáo D, ngoài 1 lần trực tiếp một mình thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại nhà anh Nguyễn Văn Giang N thì bị cáo là ngƣời khởi xƣớng, rủ rê bị cáo H cùng bị cáo thực hiện một lần phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khác tại nhà anh Nguyễn Hồng T. Ngoài ra, bị cáo còn là ngƣời giúp sức tích cực thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” tại nhà anh Rin do bị cáo H khởi xƣớng, rủ rê. Vì vậy, bị cáo là ngƣời chủ mƣu, chịu trách nhiệm chính trong việc các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, và chịu trách nhiệm hình sự với vai trò giúp sức tích cực khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội“Trộm cắp tài sản”.

Đối với bị cáo H, ngoài một lần thực hiện hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với vai trò là ngƣời giúp sức tích cực thì bị cáo chính là ngƣời khởi xƣớng, rủ rê bị cáo D thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” tại nhà anh R nên đối với tội danh này, bị cáo H là ngƣời có vai trò chính, chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo D.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo đều là những ngƣời có nhân thân xấu. Đối với bị cáo D: Ngày 06/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh K xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 01/2012/HSST. Bị cáo đã chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh K, đến ngày 26/6/2012 chấp hành xong và về địa phƣơng sinh sống (Đã đƣợc xóa án tích); Bị cáo H thì ngày 15/01/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 14/2014/HSST. Bị cáo đã chấp hành án tại Trại giam GT, đến ngày 31/8/2015 chấp hành xong và về địa phƣơng sinh sống (Đã đƣợc xóa án tích); Ngày 22/12/2015, bị Công an Phƣờng Y, thành phố P, tỉnh G xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc và đã nộp phạt ngày 01/01/2016 (Được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính);

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo D có 01 tiền án vào ngày 09/02/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh K xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 06/2015/HSST. Bị cáo đã chấp hành án tại Trại giam GT, đến ngày 20/3/2016 chấp hành xong và về địa phƣơng sinh sống (chƣa đƣợc xóa án tích). Vì vậy, đối với tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự; Về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” ngoài tình tiết tăng nặng “tái phạm” thì bị cáo còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”và “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại các điểm g, h, i khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” đƣợc quy định tại điểm i khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự đối với hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã bồi thƣờng thiệt hại để khắc phục hậu quả, trong đó bị cáo H đã bồi thƣờng toàn bộ tƣơng ứng với phần bồi thƣờng của bị cáo; các bị cáo trong quá trình điều tra đã “tự thú” khai ra hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ đƣợc áp dụng khi quyết định hình phạt. Riêng bị cáo D còn đƣợc ngƣời bị hại Nam xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo còn đƣợc áp dụng tình tiết này theo quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về dân sự: Anh R đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Bị cáo Phan Minh H đã tác động gia đình bồi thƣờng số tiền 1.000.000đ cho anh Nguyễn Hồng T là chủ sở hữu của Máy tính xách tay hiệu Dell Latitude, bồi thƣờng số tiền 1.400.000 đồng cho anh Lê Phƣớc L. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đây là sự tự nguyện bồi thƣờng của bị cáo, tuy có nhiều hơn phần mà bị cáo phải bồi thƣờng nhƣng bị cáo tự nguyện bồi thƣờng và không có yêu cầu gì.

Bị cáo Vƣơng Đình D phải bồi thƣờng theo phần của mình tổng cộng với số tiền 13.155.000 đồng, bị cáo đã bồi thƣờng số tiền 2.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn Giang N. Số tiền còn lại chƣa bồi thƣờng là 11.155.000 đồng cần buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thƣờng cho những ngƣời bị hại

Về vật chứng: Số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) mà anh Nguyễn Quốc D nộp cần tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Phan Minh H và Vƣơng Đình D phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, r ,s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Vƣơng Đình D 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 điều 174; các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 điều 51; các điểm g, h, i khoản 1 điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Vƣơng Đình D 28 (hai mươi tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt chung đối với cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 46 (bốn mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 15/9/2017.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, r ,s khoản 1 điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Phan Minh H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 điều 174; các điểm b, r, s khoản 1 điều 51; điểm i khoản 1 điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Phan Minh H 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt chung đối với cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 15/9/2017.

4. Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự, các điều 584, 587, 589 Bộ luật dân sự 2015

Buộc bị cáo Vƣơng Đình D phải tiếp tục bồi thƣờng cho anh Nguyễn Hồng T số tiền 1.000.000 đồng; bồi thƣờng cho anh Nguyễn Văn Giang N số tiền 8.155.000 đồng và bồi thƣờng cho anh Lê Phƣớc L số tiền 2.000.000đồng. Tổng cộng là 11.155.000 đồng (mười một triệu một trăm năm lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

5. Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015,

Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 30/01/2018 giữa công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự hyện Đ

6. Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Vƣơng Đình D và Phan Minh H, mỗi bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Vƣơng Đình D phải nộp 557.750 đồng (năm trăm năm bảy nghìn bảy trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo bản án; ngƣời bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án về phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình kể từ ngày nhận đƣợc bản sao Bản án hoặc Bản án đƣợc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ