vanban.org

Bản án 18/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng Tuyên án 19/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật H ình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị c áo Vũ Văn S 15 (Mư ời lăm) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chuyển 12 tháng t ù cho hư ởng án treo tại bản án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Sơn - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật H ình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H ình sự; Điều 52 Bộ luật H ình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TI ÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PH ÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/HS-ST
Ngày 19 - 6 - 2018

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG HO

À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TI ÊN LÃNG - HẢI PH ÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử s

ơ th ẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Viên – Hiệu tr ư ởng tr ư ờng tiểu học Quang Phục

.

Ông Phạm Tuấn Anh – Bí thư Đoàn thanh niên th ị trấn Ti ên Lãng.

Thư k ý phiên toà: Bà Ngô Thị Ngọc Anh – Thư k ý Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Ph òng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân

huyện Ti ên Lãng tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát vi ên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở

Tòa án nhân dân huyện Ti ên Lãng, thành phố Hải Ph òng xét xử công khai vụ án h ình sự sơ th ẩm thụ lý số 15/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số 15/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Vũ Văn S , sinh ngày 19/8/19XX tại Hải Ph òng; nơi cư trú : Thôn B, xã K, huyện T , Hải Ph òng; nghề nghiệp: Không; tr ình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông

Vũ Văn B (đ ã chết), con bà Lê Thị T, sinh năm 19 XX, chưa c ó vợ con ; tiền án số 39 ng ày 29/11/2017, TAND huyện Ti ên Lãng, Hải Ph òng xử phạt 12 tháng tù cho hư ởng án treo, 24 tháng thử thách tính từ ng ày tuyên án về tội Lừa đảo chiếm đoạt t

ài sản; bị tạm gi ữ từ ng ày 12/3/2018, tạm giam ng ày 15/3/2018; có mặt.

- Bị hại: Anh Vũ Đức Q, sinh ng ày 05/4/20XX; có mặt.

- Ngư ời đại diện hợp pháp của bị

hại : Bà Phạm Thị H , sinh năm 19XX (là mẹ đẻ) ; cùng cư trú : Thôn N, xã K, huyện T, Hải Ph òng; có đơn xin v ắng mặt.

- Ngư ời bảo vệ quyền v à lợi ích hợp pháp của bị hại

: Bà Lươ ng Thị Thủy - Trợ giúp vi ên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nh à nư ớc th ành phố Hải Phòng; có mặt.

- Ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li

ên quan: Bà Lê Thị T, sinh năm 19 XX; nơi cư trú: Thôn B, x ã K, huyện T, Hải Ph òng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại p

hiên tòa, nội dung vụ án đư ợc tó m tắt nh ư sau:

Khoảng 17h 30’ ngày 26/02/2018, Vũ Văn S thấy em Vũ Đức Q, sinh ng

ày 05/4/20XX đi xe máy BKS: 16FA – 4241 đến quán internet XO ở thôn Ph ương Lai, xã Cấp Tiến, huyện Tiên Lãng để chở Vũ Tiến T l

à em họ về nh à, tại đây S đ ã hỏi đi nhờ xe v à đư ợc em Q đồng ý v à giao xe cho S cầm lái chở em Q v à T ngồi sau. S điều khiển xe đến ng ã ba Cầu Đầm thuộc x ã Đ, huyện T th ì S cho xe vào cây xăng đổ 20.000 đồng tiền xăng, lúc n ày S nẩy sinh ý định chiếm đoạt xe máy của em Q đem cầm cố lấy tiền ăn ti

êu. Để thực hiện h ành vi này, S đã vào quán tạ p hóa mua bánh kẹo để cả ba c ùng ăn, ngoài ra S còn cho Q và T mỗi em 50.000 đồng . S đã nói dối em Q là S cần v ào nhà Nguyễn Văn N ở thôn P, xã C để lấy quần áo, khi S ơn đi ều khiển xe đến đầu l

àng Phú Xuân thì gặp anh Phạm Văn L (bạn của S). S dừng xe nói chuyện với anh L một lúc rồi bảo với em Q v

à T đứng chờ để S m ư ợn xe đi lấy quần áo. Em Q t ư ởng thật n ên đã đồng ý cho S m ư ợn xe và đứ ng chờ . Sau khi chiếm đoạt đ ư ợc xe, S đ ã đem xe của em Q đến khu vực chợ Thái xã M, huyện A cầm cố cho thanh ni ên tên Tuấn lấy 500.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. C òn em Vũ Đức Q không thấy S quay lại trả xe n

ên ngày 10/3/2018 đã cùng gia đình làm đơn trình báo và giao nộp bản sao giấy đăng ký xe máy BKS: 16FA - 4241.

Ngày 12/3/2018, Cơ quan c ảnh sát điều tra công an huyện Ti ên Lãng ban hành Lệnh giữ ng ư ời trong tr ư ờng hợp khẩn cấp v

à tiến h ành khám xét khẩn cấp nơi ở của V ũ Văn S nhưng không thu gi ữ đ ư ợc vật chứn

g liên quan đến vụ án.

Theo Kết luận định giá t ài sản số 02/KL-ĐG ngày 12/3/2018 của Hội đồng

định giá t ài sản trong tố tụng h ình sự huyện Ti ên Lãng kết luận: Xe máy nh ãn hiệu Majesty dung tích 49 cm2, BKS: 16FA - 4241 trị giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồn g).

Tại C ơ quan đi ều tra, Vũ Văn S đ ã khai nhận to àn bộ h ành vi phạm tội n êu trên, Sơn không bàn b ạc với anh Phạm Văn L về việc chiếm đoạt t

ài sản m à chỉ đứng nói chuyện với anh L để tạo niềm tin với em Q v

à T.

Bị hại e m Vũ Đức Q khai: Khoảng 17h 30’ ng ày ngày 26/02/2018, em Q đi xe máy BKS: 16FA – 4241 đến quán internet XO ở thôn P, x ã C, huyện T để chở Vũ Tiến T l à em họ về nh à thì S đã hỏi đi nhờ xe về. Em Q đồng ý v

à giao xe cho S cầm lái chở em Q v à T ngồi sau, sau đó S đ ã chiếm đoạt xe của em Q nh ư n ộ i dung nêu trên.

Ngày 03/5/2018 , bà Lê Thị T (mẹ bị cáo) đ ã giao nộp số tiền 500.000

đồng là tiền bị cáo S cầm cố xe máy chiếm đoạt của em Q cho C

ơ qu an cảnh sát điều tra công an huyện T. Ngày 04/5/2018, bà T đã bồi th ư ờng số tiền 3.000.000

đồng là trị g iá chiếc xe bị chiếm đoạt của em Q cho gia đ

ình em Q.

Tại bản Cáo trạng số

16/CT-VKS ngày 21/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ti ên Lãng đã truy tố bị cáo Vũ Văn S về tội Lừa đảo chiếm đoạt

tài sản theo khoản 1 Điều 17 4 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi

bổ sung năm 2017.

Tại phi ên toà bị cáo khai nhận có h ành vi lừa đảo chiếm đoạt

tài sản như đ ã khai tại c ơ quan đi ều tra v à cáo trạng nêu trên.

Bị hại khai: Sau khi cho bị cáo đi nhờ xe, bị cáo đ ã hỏi m ư ợn xe máy của bị

hại, sau đó chiếm đoạt xe của bị hại

đúng như b ị cáo đ ã khai nhận.

Ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan khai: Sau khi bị bắt giữ, bị cáo đ ã đề nghị b à bỏ tiền nộp lại số tiền do bị cáo phạm tội m

à có đồng thời bồi th ư ờng cho gia đình bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố

tại ph iên tòa giữ nguy ên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Vũ Văn S và đề nghị HĐXX :

Căn cứ khoản 1 , khoản 5 Điều 174; điểm h, i khoản 1 Điều 52;

điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65

Bộ luật Hình sự 2015; xử phạt bị cáo

Vũ Văn S mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Tổng hợp với h ình phạt 12 tháng t ù cho hư ởng án treo tại bản án số 39 ng

ày 29/11/2017 của TAND huyện Ti ên Lãng để buộc bị cáo phải chấp h

ành hình phạt chung của 02 bản án

với mức án từ 27 đến 30 tháng tù; phạt bổ sung đối với bị cáo

từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng .

Về vật chứng: Đề nghị

trả lại số tiền

500.000 đồng cho bà Lê Thị T .

Về trách nhiệm dân sự:

Không đề nghị xem xét

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự s ơ th ẩm , bị cáo nộp án phí theo luật định .

Ý kiến của ng ư ời bảo vệ quyền v à lợi ích hợp pháp của bị hại

: Không có ý ến tranh luận g ì về tội danh cũng nh ư các đi ều luật đ ư ợc đề nghị áp dụng đối với ki bị cáo v à đề nghị xét xử nghi êm đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA T

ÒA ÁN:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn

cứ v ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh

ư sau:

[1] Về h ành vi, quyết định tố tụng của C

ơ quan đi ều tra Công an huyện Ti ên Lãng, Điều tra vi ên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ti ên Lãng và Kiểm sát vi ên trong quá trình điều tra, truy tố đ ã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr ình tự thủ tục quy định của Bộ luật

Tố Tụng hình sự . Quá trình điều tra, truy tố v à tại phi ên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về h

ành vi, quyết định tố tụng của

cơ quan ti ến hành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng. Do đó các h ành vi, quyết định tố

tụng của Cơ quan tiến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phi

ên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại c

ơ quan điều tra, lời khai bị hại,

ngư ời l àm chứng , kết luận định giá v à các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ s ơ th ể hiện: V ào hồi 17h 30’ ngày 26/02/2018 lợi dụng việc xin đi nhờ xe, Vũ Văn S đ ã nảy sinh ý định chiếm đoạt t

ài sản l à chiếc xe máy nhãn hiệu Majes ty BKS: 16FA - 4241 trị giá 3.000.000 đồng của em Vũ Đức Q. S đã đùng thủ đoạn gian dối

hỏi mư ợn xe để đi gặp bạn lấy quần áo rồi

chiếm đoạt đem đi cầm cố lấy tiền ăn ti

êu nên đã đủ c ơ s ở kết luận bị cáo

Vũ Văn S đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt

tài sản , theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

.

Hành vi của bị cáo l à nguy hiểm cho x ã hội xâm phạm đến

quyền sở hữu của ngư ời khác , gây mất trật tự trị an x

ã hội . Do vậy cần xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm, cách ly khỏi x ã hội một th ời gian đủ để giáo dục

riêng đối với bị cáo v à phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân v à các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h

ình sự:

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm h ình sự : Bị cáo có 01 tiền án số 39 ngày 29/11/2017, TAND huyện Tiên Lãng, Hải Ph òng xử phạt 12 tháng tù cho hư ởng án treo, 24 tháng thử thách về tội Lừa đảo chiếm đoạt t

ài sản, đang trong thời gian thử thách n ên bị cáo phải chịu t ình tiết tăng nặng tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 – BLHS, đồn g thời chuyển 12 tháng tù cho hư ởng án treo của bản án n ày thành 12 tháng tù giam để tổng hợp án buộc bị cáo phải chấp h ành hình phạt chung của cả 02 bản án.

Bị hại l à em Vũ Đức Q, sinh ngày 05/4/2002, khi thực hiện h ành vi chiếm đoạt xe của em Q, em Q ch ưa đ ủ 16 tuổi, nên bị cáo còn phải chịu t ình tiết tăng nặng phạm tội đối với

ngư ời d ư ới 16 tuổi , quy định tại điểm i khoản 1 Điều 5 2 - BLHS.

Về t ình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra v à tại phi ên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đ ã tác động gia đình nộp lại số tiền do phạm tội mà có và bồi th ư ờng cho gia đ ình bị hại, mặt kh ác ngư ời đại diện hợp pháp của bị hại có đ ơn xin gi ảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên xem xét cho bị cáo đ ư ợc h ư ởng các tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm h ình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Đối với t ình tiết giảm nhẹ

phạm tội nh ưng gây thiệt hại không lớn , quy định tại điểm h khoản 1 Điều 5

1 - BLHS đư ợc hiểu l à đã có thiệt hại xảy ra nh ưng thi ệt hại đó nhỏ h ơn thi ệt hại m à ngư ời phạm tội mong muốn

, mặt khác bị hại l à ngư ời d ư ới 16 tuổi n ên hậu quả về mặt tinh thần đối với bị hại l

à

ỏ, do vậy

ụng t ình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h

ình sự không nh

HĐXX không áp d phạm tội nh ưng gây h ậu quả không lớn đối với bị cáo.

[4] Về h ình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập và tài sản nên HĐXX không áp dụng h ình phạt bổ sung l à phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 500.000

đồng bị cáo khai cầm cố xe máy của em Vũ Đức Q

cho thanh niên tên Tuấn , bị cáo đ ã tác động gia đ ình nên bà Lê Thị Thúy (mẹ bị cáo) đã nộp số tiền n ày cho cơ quan c ảnh sát điều tra huyện Tiên Lãng. Xét quá trình điều tra chưa xác đ ịnh đ ư ợc thanh niên tên Tuấn, ngoài lời khai của bị cáo không c òn chứng cứ n ào khác, do vậy chưa đ ủ c ơ s ở kết luận đây là tiền do phạ m tội m à có nên không có cơ s ở để tịch thu , nhưng t ại phi ên tòa bà Lê Thị Th từ chối nhận lại số tiền 500.000 đồng b

à đã nộp n ên cần tịch thu số tiền n ày để sung quỹ Nh à nư ớc .

[6] Về trách nhiệm dân sự: T ài sản bị cáo chiếm đoạt

là chiếc xe máy nhãn ệu M

ị giá 3.000.000 đồng, b à Lê Thị T đ ã bồi th ư ờng hi

ajesty BKS: 16FA - 4241 tr cho gia đình bị hại, bị hại

và bà T không có ý kiến hay y êu cầu bồi th ư ờng g ì khác nên HĐXX không xét.

[7] Đối với ng ư ời thanh ni ên tên Tuấn l à ngư ời cầm cố chiếc xe bị cáo

chiếm đoạ t và chiếc xe máy BKS: 16FA – 4241. Cơ quan c ảnh sát điều tra công an huyện Ti ên Lãng đã tiến h ành điều tra xác minh nh ưng chưa xác đ ịnh đ ư ợc Tuấn và thu hồi đ ư ợc xe n ên chưa có cơ s ở để xem xét, khi n ào làm rõ sẽ xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự s ơ th ẩm theo luật định .

Vì các lẽ tr ên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm h, i khoản 1 Điều 52 ; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65

Bộ luật H ình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

.

Xử phạt bị c áo Vũ Văn S 15 (Mư ời lăm) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt

tài sản. Chuyển 12 tháng t ù cho hư ởng án treo tại bản án

số 39 ngày 29/11/2017 của TAND huyện Ti ên Lãng, Hải Ph òng thành 12 tháng tù giam để tổng hợp h ình phạt buộc bị cáo phải chấp h

ành hình phạ t chung của 02 bản án l à 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ l à ngày 12/3/2018. Trừ cho bị cáo 06 (Sáu) ng ày đã bị tạm giữ

tại bản án số 39 ngày 29/11/2017 của TAND huyện Ti ên Lãng, Hải Ph òng (Tạm giữ từ ng ày 09 /8/2017 đến ng ày 15/8/2017).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều

228 Bộ luật dân sự 2015:

Tịch thu sung quỹ Nhà nư ớc số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) bà Lê Thị T đ ã nộp tại c ơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Ti ên Lãng (Số tiền này đã đư ợc chuyể n cho Chi cục thi h ành án dân sự huyện Ti ên Lãng theo giấy chuyển tiền ng ày 21/5/2018).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 v

à khoản 2 Điều 136 Bộ luật

Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí T

òa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí h ình sự s ơ th ẩm để

sung quỹ Nh à nư ớc.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo , bị hại, ngư ời bảo vệ quyền v

à lợi ích hợp pháp của bị hại

có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ng ày kể từ ng ày tuyên án.

Ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li

ên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp li

ên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của m

ình trong hạn 15 ngày kể từ ng ày tuyên án.

Ngư ời đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo

bản án trong ạn 15 ng ày ể từ ng ày nhận đ ư ợc bản án hoặc kể từ

ản án đ ư ợc ni êm yết. h

k

ngày b Nơi nh ận:

Cỡ chữ