vanban.org

Bản án 18/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 10/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tuyên bố: Bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2/- Xử phạt: 3/- Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hồ Minh T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố: Bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƢỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/HS-ST
Ngày: 10-7-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƢỜI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hiến Cƣơng

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Nguyễn Văn Ánh

2- Ông Mai Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thi – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Ông Trần Văn Nguyên – Kiểm sát viên.

Bà Lê Thị Ngọc Lợi – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án Huyện, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Minh T (T Ốc), sinh năm 1968; HKTT và chỗ ở ấp 3, xã LB, huyện X, Đồng Tháp; nghề nghiệp nuôi cá; trình độ văn hóa 03/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Hồ Minh B, sinh năm 1933 (đã chết) và bà Võ Thị Q Võ Thị Y), sinh năm 1926 còn sống); có vợ tên Nguyễn Thị O sinh năm 1968 và có 02 người con con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1995); tiền án, tiền sự không; tạm giữ ngày 24/11/2017; tạm giam ngày 27/11/2017; bị cáo còn bị tạm giam và có mặt tại phiên tòa.

* gư i đại diện theo pháp u t cho ngư i hại:

1. Ngô Văn V - sinh năm: 1968. có mặt)

Địa chỉ: p 3, xã LB, huyện X, Đồng Tháp.

2. Mai Ngọc H - sinh năm: 1997. v ng mặt)

Địa chỉ: p TB, xã TP, huyện TB, Tây Ninh.

* gư i đại diện theo pháp u t cho con của ngư i hại cháu g V n Tu n A, sinh ngày

6):

Nguyễn Thị U - sinh năm: 1988. có mặt)

Địa chỉ: p 3, xã LB, huyện X, Đồng Tháp.

* gư i có quy n i, ngh a v iên quan:

Ngô Thị Bích D - sinh năm: 1987. có mặt)

Địa chỉ: p 3, xã LB, huyện X, Đồng Tháp.

* gư i àm chứng:

1. Nguyễn Văn L - sinh năm: 1978. có mặt)

Địa chỉ: p 3, xã GG, huyện CL, Đồng Tháp.

2. Ngô Văn P - sinh năm: 1989. có mặt)

3. Nguyễn Văn TH - sinh năm: 1952. có mặt)

4. Nguyễn Thị O - sinh năm: 1968. có mặt)

Cùng địa chỉ: p 3, xã LB, huyện X, Đồng Tháp.

5. Hu nh Nguyễn G - sinh năm: 1972. có mặt)

6. Hà Văn N - sinh năm: 1968. có mặt)

Cùng địa chỉ: p LA, xã TM, huyện X, Đồng Tháp.

7. Ngô Minh VU - sinh năm: 1982. v ng mặt)

Địa chỉ: p 4, xã LB, huyện X, Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Bị cáo Hồ Minh T bị Viện kiểm sát huyện Tháp Mười truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồ Minh T có một con mương l ng cạnh ao nuôi cá tại ấp 3 xã LB, huyện X, dùng để l ng nước thải từ ao nuôi cá, sau đó mới xả nước ra sông.

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/11/2017, sau khi uống rượu ở nhà người bạn về ngang đập mương l ng nước từ ao nuôi cá của T, T nhìn thấy anh Ngô Văn E và anh Nguyễn Văn L đang rọi đèn xiệt điện b t cá dưới mương l ng, T đi về nhà gặp ông Nguyễn Văn TH ngồi một mình trước nhà. T vào nhà th p hương bàn thờ, lấy bình châm trà cho ông TH uống. Sau đó T cởi áo, quần dài đi ra sau nhà, T không nói với ông TH ông TH cũng không biết T đi đâu và làm gì. Khi đi đến chỗ cái dớn, T nhìn thấy một cây tre có hai đầu vạt nhọn, có buộc dây kẽm khoảng giữa, dài 2,85 mét, đường kính 3,7cm, phần gốc nhọn dài 13cm, phần ngọn nhọn dài 14cm, cân nặng 1,5kg (cây tre T dùng để làm vớn nên vạt nhọn sẵn), T nhặt lấy cây tre đi đến chỗ anh E và anh L đang xiệt cá. Lúc này, anh T đi dưới mương mang bình c quy có bộ phận kích tăng hiệu điện thế sau lưng, đèn rọi sáng g n trước trán, hai tay cầm hai cây gỗ có dây dẫn điện được g n vào vợt kim loại và thanh kim loại. Anh Nguyễn Văn L đi trên mé bờ mương song song với anh E, tay xách giỏ nhựa đựng cá, đèn rọi sáng g n trên trán, cả hai đi từ hướng ruộng ra bờ đập nước giáp kênh Cây Vong. T đi đến từ phía sau anh E và anh L, T ngồi xổm, mặt quay hướng xuống mương cách anh E và anh L khoảng 3-4 mét, cây tre để xuống đất kế bên phải và nói: Qua nay mấy ông xiệt đủ rồi, sao mấy ông quá lỳ, để tôi kiếm tiền dầu. T dứt lời thì anh E vừa nói: Chích chết mày luôn và đưa hai vợt điện xiệt cá vào cách T khoảng 30-40cm. T tay phải cầm lấy cây tre, vừa đứng lên vừa lùi lại 3-4 bước đưa cây tre lên phóng trúng vào trên ngực trái của anh E, rồi bỏ chạy ra hướng bờ đập kênh Cây Vong vài mét thì trán đụng vào cây gáo, anh L đuổi theo T một đoạn thì nghe anh E nói mệt nên quay lại, T hoảng hốt chạy luôn về nhà gặp ông TH nhờ ông TH gọi điện thoại báo Công an xã. Ông TH không có số điện thoại Công an xã, nên gọi điện thoại cho ông M (Trưởng ấp 3, xã LB) biết sự việc. Anh L chạy xe mô tô về nhà báo cho gia đình anh E đến hiện trường đưa anh E đến Trạm y tế xã Láng Biển cấp cứu, nhưng anh E đã chết trước khi đến Trạm y tế. T sợ bị người nhà anh E đuổi đánh, nên trốn sang bên kia sông. Sau đó, T đã ra đầu thú tại Công an xã Láng Biển.

Căn cứ Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 330/TTh-TTPY, ngày 04/12/2017 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Đồng Tháp đối với anh Ngô Văn E, thể hiện:

- Vết thương trầy xướt da vùng ngực (T), KT # 3x1 cm, nằm phía trên vú bên trái 1cm, trên đường trung đòn T), xung quanh vết thương có vùng bầm máu nhiều, KT # 4x4cm. Rạch da vùng ngực bên trái tương ứng vùng vết thương trầy xướt da ngực trái) thấy:

+ Có bầm máu, tụ máu nhiều thành ngực (T). Thành ngực trái có lỗ thủng rộng, KT # 2,5 x 3 cm, chen rộng khoảng liên sườn III (T), xuyên thấu thành ngực vào khoan màng phổi (T).

+ Tràn máu màng phổi T) lượng nhiều. Xẹp hoàn toàn phổi bên trái.

- Kết luận: Ngô Văn E chết do chấn thương ngực kín gây tràn máu màng phổi T) lượng nhiều + Xẹp phổi (T).

Về trách nhiệm dân sự:

Cha của bị hại là ông Ngô Văn V yêu cầu bồi thường tiền chi phí mai táng là 25.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 90.000.000 đồng (không tính số tiền đã bồi thường cho chị Mai Ngọc H) và yêu cầu cấp dưỡng cho ông. Vợ bị hại là chị Mai Ngọc H đã nhận 10.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần và 10.000.000 đồng tiền cấp dưỡng cho con của bị hại là Ngô Thị Lan A, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị Nguyễn Thị U yêu cầu bị cáo cấp dưỡng cho con của bị hại là Ngô Văn Tuấn A.

Gia đình bị cáo đã bồi thường tiền mai táng là 25.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần cho ông Ngô Văn V 10.000.000 đồng, đã bồi thường cho chị Mai Ngọc H 10.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần và 10.000.000 đồng tiền cấp dưỡng cho con của bị hại là Ngô Thị Lan A. Tổng cộng là 55.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường thêm 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) tiền tổn thất tinh thần cho ông V và cấp dưỡng cho con bị hại theo quy định pháp luật, không đồng ý cấp dưỡng cho ông V.

Về vật chứng:

- 01 một) đèn pin màu tr ng - xanh, nhãn hiệu DP, kích thước 5 x 23) cm.

- 01 một) giỏ nhựa hai quai màu xanh, chiều cao 23cm, đường kính rộng nhất 29cm, đường kính nhỏ nhất 22cm.

- 01 một) cây tre gỗ tròn dài 2,85 mét, đường kính 3,7cm, phần gốc nhọn dài 13cm, phần ngọn nhọn dài 14cm, cân nặng l,5kg.

- 02 (hai) cây vợt xiệt phần thân gỗ dài 1,75 mét, đường kính l,4cm, một cây phần đầu vợt kim loại kích thước (11 x 22) cm. Cây thứ hai phần đầu thanh kim loại dài 33cm, đường kính 0,2cm.

- 01 một) bình c quy vỏ màu tr ng, nhãn hiệu Ac quy dongnai dân dụng, có 06 nút nhựa màu đỏ, có 05 cọc chì, có hai kẹp kim loại g n với hai dây điện vỏ màu vàng và màu đỏ. Một bộ phận kích tăng hiệu điện thế được đựng trong hộp gỗ. Tất cả các bộ phận nêu trên được đựng trong thùng nhựa màu tr ng.

Tại Bản Cáo trạng số 13/CT-VKSTM ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát huyện Tháp Mười, đã truy tố bị cáo Hồ Minh T T c) về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 gọi t t là Bộ luật hình sự năm 1999).

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Vị đại diện Viện kiểm sát huyện Tháp Mười thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Căn cứ Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Bị cáo Hồ Minh T từ 05 năm đến 06 năm tù.

+ Về trách nhiệm dân sự:

Chị Mai Ngọc H đã nhận tiền bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng và cấp dưỡng cho con của bị hại là cháu Ngô Thị Lan A 10.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết.

Ông Ngô Văn V yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do tổn thất tinh thần số tiền 90.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ Điều 591, 593 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ vào tính chất, mức độ lỗi của bị cáo và bị hại, điều kiện kinh tế của bị cáo hiện tại, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Buộc bị cáo Hồ Minh T phải bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại số tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng. Do bị cáo và gia đình đã bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho ông V, chị H tổng cộng 20.000.000 đồng, nên bị cáo phải tiếp tục bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần số tiền còn lại cho ông Ngô Văn V.

Tại phiên tòa, ông Ngô Văn V không yêu cầu bị cáo cấp dưỡng cho ông nên không xem xét giải quyết.

Đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị U yêu cầu bị cáo cấp dưỡng cho con của bị hại là cháu Ngô Văn Tuấn A, sinh ngày 12/9/2016, mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng, bị cáo đồng ý cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp quy định của pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo.

+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Trả lại cho chị Ngô Thị Bích D: 01 (một) đèn pin màu tr ng - xanh, nhãn hiệu DP, kích thước (5 x 23) cm.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 một) giỏ nhựa hai quai màu xanh, chiều cao 23cm, đường kính rộng nhất 29cm, đường kính nhỏ nhất 22cm;

- 01 một) cây tre gỗ tròn dài 2,85 mét, đường kính 3,7cm, phần gốc nhọn dài 13cm, phần ngọn nhọn dài 14cm, cân nặng l,5kg;

- 02 (hai) cây vợt xiệt phần thân gỗ dài 1,75 mét, đường kính l,4cm, một cây phần đầu vợt kim loại kích thước 11 x 22) cm. Cây thứ hai phần đầu thanh kim loại dài 33cm, đường kính 0,2cm.

- 01 một) bình c quy vỏ màu tr ng, nhãn hiệu Ac quy dongnai dân dụng, có 06 nút nhựa màu đỏ, có 05 cọc chì, có hai kẹp kim loại g n với hai dây điện vỏ màu vàng và màu đỏ. Một bộ phận kích tăng hiệu điện thế được đựng trong hộp gỗ. Tất cả các bộ phận nêu trên được đựng trong thùng nhựa màu tr ng.

- Bị cáo Hồ Minh T khai: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/11/2017, bị cáo phát hiện anh E và anh L đang xiệt cá ở mương l ng của mình, bị cáo không nói gì mà đi về nhà. Bị cáo châm trà cho ông TH uống rồi bỏ ra phía sau, khi đi ngang qua cái dớn, bị cáo lấy 01 cây tre (được vạt nhọn 02 đầu, có buộc dây kẽm khoảng giữa, dài 2,85 mét, đường kính 3,7cm, phần gốc nhọn dài 13cm, phần ngọn nhọn dài 14cm, cân nặng 1,5kg), rồi đi ra chỗ anh E và anh L. Bị cáo đi đến từ phía sau anh E và anh L, bị cáo ngồi xổm, cây tre để xuống đất kế bên phải và nói: Qua nay mấy ông xiệt đủ rồi, sao mấy ông quá lỳ, để tôi kiếm tiền dầu. Bị cáo dứt lời thì anh E nói: Chích chết mày luôn và đưa hai vợt điện xiệt cá vào cách bị cáo khoảng 30-40cm. Do tự vệ và không kìm chế được, nên bị cáo tay phải cầm lấy cây tre phóng trúng vào trên ngực trái của anh E, rồi bỏ chạy về nhà gặp ông TH, nhờ ông TH gọi điện thoại báo Công an xã LB. Sau đó bị cáo sợ bị người nhà anh E đuổi đánh, nên trốn sang bên kia sông và ra đầu thú tại Công an xã Láng Biển. Việc bị cáo dùng cây phóng anh E là phòng vệ chính đáng. Đồng thời, bị cáo khai gia đình bị cáo sống bằng nghề nuôi cá, với diện tích khoảng 10.000m2, vợ bị cáo đang quản lý, hiện tại kinh tế gia đình bị cáo khó khăn và thu nhập từ việc nuôi cá không ổn định khi lời khi lỗ.

- Người đại diện theo pháp luật cho người bị hại ông Ngô Văn V và chị Nguyễn Thị U đại diện theo pháp luật cho con của bị hại cháu Ngô Văn Tuấn A) yêu cầu bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần, chi phí mai táng và tiền cấp dưỡng nuôi cháu Ngô Văn Tuấn A. Ông V không yêu cầu cấp dưỡng cho ông.

- Người làm chứng Nguyễn Minh L khai: Vào tối ngày 23/11/2017, anh cùng với E đi xiệt cá tại mương nhà bị cáo. Trong lúc xiệt cá thì nghe tiếng “xiệt hả” và thấy bị cáo dùng cây tre phóng trúng ngực của E, anh rượt theo bị cáo nhưng nghe E nói mệt, nên anh quay lại. Sau đó, anh chạy về nhà thông báo cho gia đình đến thì E đã chết.

- Người làm chứng Nguyễn Văn TH khai: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/11/2017, bị cáo về nhà châm trà cho ông uống, rồi bị cáo bỏ đi ra phía sau, ông không biết bị cáo đi đâu. Sau đó, ông nghe phía sau nhà bị cáo có tiếng nói “Chết mẹ mày, chết mẹ mày”. Một lúc sau bị cáo chạy vô nhà kể lại sự việc đã dùng cây phóng E và nhờ ông điện thoại báo Công an.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tháp Mười, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Tháp Mười, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/11/2017, do thấy anh E và anh L đang xiệt cá trong mương của mình. Khi bị cáo phát hiện, anh E và anh L không dừng hành vi vi phạm pháp luật mà còn thách thức, đe dọa bị cáo. Hai bên cự cãi qua lại, do không kìm chế bị cáo đã dùng cây tre được vạt nhọn 02 đầu phóng trúng anh E tử vong (theo Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 330/TTh-TTPY, ngày 04/12/2017 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Đồng Tháp). Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập đầy đủ trong hồ sơ vụ án.

Đối với việc bị cáo cho rằng hành vi dùng cây phóng anh E là phòng vệ chính đáng là không có căn cứ. Vì theo lời khai của bị cáo tại phiên tòa, khi anh E đưa cây xiệt điện cách chân bị cáo 03 – 04 tấc, bị cáo lùi lại phía sau cách anh E khoảng 02 mét, lúc đó anh E, anh L vẫn còn ở dưới mương và anh L cũng không có hành vi gì đe dọa bị cáo. Hơn nữa, theo lời khai của bị cáo chiều cao của mương là 1,7 - 1,8 mét, nên bi cáo hoàn toàn có thể bỏ chạy để thoát thân. Hơn nữa, anh E cũng chưa thực hiện hành vi gây nguy hiểm đến tính mạng bị cáo, nên việc bị cáo dùng tay phải cầm cây tre được vạt nhọn 02 đầu phóng về phía anh E gây thương tích dẫn đến tử vong, không được xem là phòng vệ chính đáng.

Đối với lời khai của người làm chứng Nguyễn Văn L: Xác định trong lúc anh và anh E đang xiệt cá thì bất ngờ nghe tiếng bị cáo nói “xiệt cá” và đồng thời dùng cây phóng trúng anh E. Lời khai này là chưa phù hợp, vì theo lời khai của ông TH, trong lúc bị cáo đi ra phía sau thì ông nghe tiếng bị cáo cự cãi với ai. Một lát sau thì bị cáo về nhà nói đã dùng cây phóng trúng bị hại. Do đó, nguyên nhân bị cáo phạm tội xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật của bị hại.

Do đó, Viện kiểm sát huyện Tháp Mười truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

..............................

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm”.

Xét, bị cáo T là người đã thành niên, nhận thức được hành vi xâm phạm đến thân thể, sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là cây tre được vạt nhọn phóng trúng ngực bị hại E, dẫn đến tử vong. Mặc dù, hành vi của bị cáo xuất phát từ hành vi trái pháp luật của bị hại, bị cáo không có ý thức tước đoạt sinh mạng của bị hại, việc người bị hại chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Nhưng bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Do đó, cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, chẳng những xâm phạm đến thân thể, sức khỏe của người bị hại, mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định, để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội. Đồng thời, góp phần phòng ngừa trong toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: “Bồi thư ng thiệt hại, khắc ph c một phần h u quả; thành khẩn khai áo, n n n hối cải; cáo đầu thú; cha của cáo ng Hồ Minh B đư c tặng Huân chương khánh chiến hạng Ba, mẹ cáo à Võ Th Y đư c tặng Huy chương kháng chiến hạng h t, anh của cáo ng Hồ Minh J đư c tặng Huy chương vì an ninh Tổ quốc, Huy chương Chiến s vẻ vang; t p thể nhân dân p , x Láng Biển xin giảm nhẹ hình phạt cho cáo; ngư i hại có một phần i”, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật cho người bị hại ông Ngô Văn V yêu cầu bị cáo bồi thường như sau:

+ Tiền chi phí mai táng là 25.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong.

+ Tiền tổn thất tinh thần 90.000.000 đồng, trừ số tiền 10.000.000 đồng ông đã nhận, còn lại 80.000.000 đồng yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường.

Đồng thời, ông V không yêu cầu bị cáo cấp dưỡng cho ông nên không xem xét giải quyết.

Người đại diện theo pháp luật cho người bị hại chị Mai Ngọc H đã nhận 10.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần và 10.000.000 đồng tiền cấp dưỡng cho con chung của bị hại và chị là cháu Ngô Thị Lan A, sinh ngày 22/01/2014. Tại phiên tòa, chị H v ng mặt và trong quá trình điều tra chị H không có yêu cầu gì. Do đó, yêu cầu của chị H sẽ được tách ra khỏi vụ án, nếu chị H có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Chị Nguyễn Thị U người đại diện theo pháp luật cho con chung của bị hại và chị U là cháu Ngô Văn Tuấn A, sinh ngày 12/9/2016), yêu cầu bị cáo cấp dưỡng cho cháu Ngô Văn Tuấn A mỗi tháng 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý cấp dưỡng cho cháu Ngô Văn Tuấn A mỗi tháng 1.000.000 đồng. Xét thấy việc bị cáo tự nguyện bồi thường là phù hợp quy định pháp luật, nên chấp nhận.

Tại phiên tòa, bị cáo không đồng ý bồi thường tiền tổn thất tinh thần, đối với số tiền tổn thất tinh thần đã bồi thường cho ông Ngô Văn V 10.000.000 đồng và chị Mai Ngọc H 10.000.000 đồng, bị cáo không yêu cầu nhận lại.

Đối với yêu cầu của ông Ngô Văn V yêu cầu bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần 90.000.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu của ông V là có căn cứ. Tuy nhiên trong vụ án này, bị hại E có một phần lỗi, bị hại đã tự ý vào mương nước của bị cáo xiệt cá khi chưa có sự đồng ý. Khi bị cáo không cho xiết cá, bị hại còn đe dọa tấn công. Do không kiềm chế được bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác, xét về hoàn cảnh gia đình bị cáo đang gặp khó khăn về kinh tế, gia đình sống bằng nghề nuôi cá, diện tích ao nuôi cá khoảng 10.000m2, do vợ bị cáo đang quản lý canh tác, thu nhập không ổn định. Đồng thời xem xét những mất mát, tổn thương của cha, vợ và con của bị hại phải gánh chịu. Do đó, áp dụng Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015, chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của ông V là buộc bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 60.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường 20.000.000 đồng, còn lại 40.000.000 đồng buộc bị cáo tiếp tục bồi thường.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Trả lại cho chị Ngô Thị Bích D: 01 (một) đèn pin màu tr ng - xanh, nhãn hiệu DP, kích thước (5 x 23) cm.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 một) giỏ nhựa hai quai màu xanh, chiều cao 23cm, đường kính rộng nhất 29cm, đường kính nhỏ nhất 22cm;

+ 01 một) cây tre gỗ tròn dài 2,85 mét, đường kính 3,7cm, phần gốc nhọn dài 13cm, phần ngọn nhọn dài 14cm, cân nặng l,5kg;

+ 02 (hai) cây vợt xiệt phần thân gỗ dài 1,75 mét, đường kính l,4cm, một cây phần đầu vợt kim loại kích thước 11 x 22) cm. Cây thứ hai phần đầu thanh kim loại dài 33cm, đường kính 0,2cm.

+ 01 một) bình c quy vỏ màu tr ng, nhãn hiệu Ac quy dongnai dân dụng, có 06 nút nhựa màu đỏ, có 05 cọc chì, có hai kẹp kim loại g n với hai dây điện vỏ màu vàng và màu đỏ. Một bộ phận kích tăng hiệu điện thế được đựng trong hộp gỗ. Tất cả các bộ phận nêu trên được đựng trong thùng nhựa màu tr ng.

(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật chứng, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/5/2018).

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

Bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho người bị hại, người đại diện theo pháp luật cho con của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/- Tuyên bố: Bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2/- Xử phạt:

Áp dụng khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Bị cáo Hồ Minh T 05 năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 24/11/2017.

3/- Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 357, Điều 591 và Điều 593 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Hồ Minh T tiếp tục bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho người đại diện theo pháp luật cho người bị hại ông Ngô Văn V là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Hồ Minh T cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng một triệu đồng) cho con của bị hại là cháu Ngô Văn Tuấn A, sinh ngày 12/9/2016. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 23/11/2017, cấp dưỡng cho đến khi cháu Ngô Văn Tuấn A đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành án xong số tiền trên, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi bằng 50%/mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.

4/- Về vật chứng:

Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Trả lại cho chị Ngô Thị Bích D: 01 (một) đèn pin màu tr ng - xanh, nhãn hiệu DP, kích thước (5 x 23) cm.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 một) giỏ nhựa hai quai màu xanh, chiều cao 23cm, đường kính rộng nhất 29cm, đường kính nhỏ nhất 22cm;

+ 01 một) cây tre gỗ tròn dài 2,85 mét, đường kính 3,7cm, phần gốc nhọn dài 13cm, phần ngọn nhọn dài 14cm, cân nặng l,5kg;

+ 02 (hai) cây vợt xiệt phần thân gỗ dài 1,75 mét, đường kính l,4cm, một cây phần đầu vợt kim loại kích thước 11 x 22) cm. Cây thứ hai phần đầu thanh kim loại dài 33cm, đường kính 0,2cm.

+ 01 một) bình c quy vỏ màu tr ng, nhãn hiệu Ac quy dongnai dân dụng, có 06 nút nhựa màu đỏ, có 05 cọc chì, có hai kẹp kim loại g n với hai dây điện vỏ màu vàng và màu đỏ. Một bộ phận kích tăng hiệu điện thế được đựng trong hộp gỗ. Tất cả các bộ phận nêu trên được đựng trong thùng nhựa màu tr ng.

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật chứng, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/5/2018).

5/- Về án phí:

Áp dụng Điều 23, Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hồ Minh T phải chịu 200.000 đồng hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm, 2.000.000 đồng hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho người bị hại, người đại diện theo pháp luật cho con của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng, người đại diện theo pháp luật cho người bị hại chị Mai Ngọc H có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trư ng h p ản án, quyết đ nh đư c thi hành án theo quy đ nh tại Đi u Lu t Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quy n thỏa thu n thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Đi u 6, 7 và Lu t Thi hành án dân sự, th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy đ nh tại Đi u Lu t Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ