vanban.org

Bản án 18/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 20/03/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/03/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đồng Hiếu M, sửa b n án sơ thẩm.

Tuyên b bị cáo Đồng Hiếu M phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”. Xử phạt bị cáo Đồng Hiếu M 08 tháng 20 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2016 đến ngày 23/9/2016 (đã thi hành xong). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đồng Hiếu M. Mua bán trái phép hóa đơn, chứng thu nộp ngân sách Nhà nước - phạm tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu n…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đồng Hiếu M, sửa b n án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 135 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 18/2018/HS-PT
Ngày: 20-3-2018

NHÂN DANH

NƯ C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Hương

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Kim Đồng

Ông Võ Đình Nghị

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Qu c Huy; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào; Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s 24/2018/TLPT-HS ngày 07/02/2018 đ i với bị cáo Đồng Hiếu M do có kháng cáo của bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s 114/2017/HSST ngày 27/12/2017 của Tòa án nhân dân thành ph B o Lộc.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Đồng Hiếu M, sinh ngày 20/11/1971, tại tỉnh Nam Định; Nơi ĐKHKTT: S 82/11, đường ĐTH, phường I, quận BT, thành ph Hồ Chí Minh (TP. HCM); Nơi cư trú: S 014, chung cư B, đường NTL, Phường 13, quận BT, TP. HCM; Qu c tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hoá: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Con ông: Đồng Ngọc H và bà: Nguyễn Thị T; Vợ: Nguyễn Kim Th, sinh năm 1973, hiện làm nghề nội trợ tại quận BT, TP. HCM; Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/01/2016 đến ngày 23/9/2016, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho b o lĩnh; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong quá trình kiểm tra giám sát lĩnh vực Thuế, ngày 25/4/2013, Cục Thuế Tỉnh Lâm Đồng có văn b n s 979/CT-TTrT gửi đến Cơ quan c nh sát Điều tra Công an Tỉnh Lâm Đồng đề nghị làm rõ về hành vi của Công ty trách nhiệm hữu hạn (Công ty TNHH) DN do Lê Thùy D làm giám đ c đã sử dụng 45 hóa đơn bất hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ (Công ty TNHH-TMDV) HĐN (gọi tắt là công ty HĐN) để kê khai khấu trừ thuế đầu vào s tiền 5.686.529.046đ (năm tỷ sáu trăm tám sáu triệu năm trăm hai chín ngàn không trăm b n sáu đồng). Cơ quan c nh sát Điều tra Công an Tỉnh Lâm Đồng tiến hành điều tra, xác định được Đồng Hiếu M là giám đ c công ty HĐN có hành vi bán trái phép hóa đơn thuế giá trị gia tăng (gọi tắt là GTGT) cho Lê Thùy D, HKTT: S 174, TP, ĐL, DL, Lâm Đồng cụ thể như sau:

Vào thời gian tháng 06/2010, Đồng Hiếu M thành lập công ty HĐN , đăng ký kinh doanh theo giấy phép s 0309986081 do Sở Kế hoạch đầu tư TP. HCM cấp ngày 04/06/2010 với ngành nghề kinh doanh là: Buôn bán vật liệu xây dựng, buôn bán ngũ c c và một s mặt hàng khác, tháng 7/2010 bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh cà phê. Địa điểm công ty đặt tại s 158B, đường DĐH, phường PL B, quận 9, TP. HCM. Trong quá trình kinh doanh, Đồng Hiếu M là người đại diện theo pháp luật. Sau khi thành lập công ty M khai báo, đăng ký mua 03 cu n hóa đơn GTGT tại Chi cục thuế quận 9, TP.HCM có kí hiệu: HK/2010 từ s 75551 đến s 75600; 03HP/11P từ s 1151 đến s 1200; 03AA/11P từ s 0088650 đến s 0088700, mỗi cu n hóa đơn có 50 s hóa đơn, đều có 03 liên. Đến tháng 3/2011, M chỉ đạo Kế toán công ty của mình là Nguyễn Thị Mỹ Thương đi đặt in 10 cu n hóa đơn GTGT với mẫu s 01GTKTT3/001 có ký hiệu DN/11P từ s 0000001 đến s 0000500 (tổng cộng 500 s ). Các s hóa đơn này được Minh thông báo phát hành hóa đơn theo quy định. Trong hoạt động kinh doanh, do thua lỗ và cần v n nên M n y sinh ý định bán trái phép hóa đơn GTGT để kiếm tiền. Thực hiện ý định này, tháng 10/2010, M móc n i và bán hóa đơn trái phép cho Nguyễn Thị L, trú tại huyện TB, tỉnh Đồng Nai được 51 hóa đơn với s thuế ph i nộp là 3.684.339.145đ. (ba tỷ sáu trăm tám tư triệu ba trăm ba chín ngàn một trăm b n lăm đồng). Đến tháng 02/2011, M lên tỉnh Lâm Đồng liên hệ và móc n i được việc mua bán hóa đơn với Lê Thùy D là Giám đ c công ty TNHH DN có trụ sở tại s 36, thôn TP, xã ĐL, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng. M và D th ng nhất việc mua bán hóa đơn trái phép như sau: Lê Thùy D sẽ tr cho M theo mùa vụ cà phê, cứ một mùa, D sẽ tr cho M s tiền 400.000.000đ (b n trăm triệu đồng) và không cần biết hóa đơn ghi giá trị là bao nhiêu. Thực hiện thỏa thuận, M bán lẻ hóa đơn cho D từng lần theo yêu cầu của D. Tổng s tiền D tr cho M theo hóa đơn bán lẻ là kho ng 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Được một thời gian, thấy việc giao dịch này bất tiện, nên M có ý định không bán hóa đơn cho D nữa. D đề nghị M bán nguyên cu n hóa đơn cho D. Hai bên th ng nhất giá bán là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng)/1 cu n hóa đơn gồm 50 s hóa đơn. Đến tháng 4/2011, theo yêu cầu của D, M chính thức xuất kh ng (bán) các hóa đơn GTGT cho D. C hai th ng nhất việc mua bán, và các thủ đoạn nhằm hợp thức hóa việc mua bán như sau:

Đ i với các hóa đơn bán lẻ trái phép từng lần, M ph i ghi s lượng hàng bán theo yêu cầu của D. M ký vào hóa đơn, đóng dấu công ty và giao liên 2 cho D. Đ i với 05 cu n hóa đơn bán nguyên cu n, M ký sẵn bên bán, không ghi s lượng, nội dung trong hóa đơn, đóng dấu sẵn vào các hóa đơn và gửi nguyên cu n cho D. Đồng thời M cung cấp b n sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của công ty HĐN, mở tài kho n giao dịch tại ngân hàng theo yêu cầu của D, ký xác nhận vào một s sổ sách của công ty DN gồm: Sổ giao nhận tiền hàng, tiền thuế, phiếu nhập kho…ngoài ra M còn ký, đóng dấu sẵn (kh ng) vào một s hợp đồng mua bán cà phê do công ty DN soạn sẵn. Về phần mình, M cũng yêu cầu D ph i thực hiện một s nội dung bao gồm: D ph i tr tiền cho s hóa đơn đã mua trước đó cho M, thì M mới bán s hóa đơn tiếp theo cho D. Đ i với hóa đơn nguyên cu n, D ph i gửi lại liên 1 và liên 3 cho M để M làm thủ tục kê khai thuế cho Công ty HĐN. Việc tr tiền mua bán hóa đơn này thông qua Công ty Thành Bưởi.

Như vậy, với thủ đoạn và phương thức nêu trên, M đã bán trái phép hóa đơn cho Diễm bao gồm: Bán nguyên 05 cu n hóa đơn với 250 hóa đơn, có ký kiệu DN/11P từ s : 0000101 đến s 0000350. Bán lẻ hóa đơn (không nhớ rõ s lượng) nằm trong các cu n hóa đơn có ký hiệu DN/11P từ s 0000001 đến s 00000050; DN/11P từ s 0000051 đến s 0000100; ký hiệu 03AA/11 từ s 0088650 đến s 0088700. Sau khi những hóa đơn nào được sử dụng, D gửi lại xe Công ty Thành Bưởi (các liên 1 và 3) cho M. M sử dụng để kê khai nộp thuế tại Chi cục thuế quận 9, TP.HCM.

Nhằm hợp thức hóa việc mua, bán hóa đơn trái phép và để chứng minh việc thanh toán tiền mua bán, D yêu cầu M lên Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Dâu tằm tơ B o Lộc (nay là Chi nhánh Nam Lâm Đồng) mở tài kho n của Công ty HĐN mang s 5490201003985; đồng thời, D còn yêu cầu M ký sẵn và mở tiếp 02 tài kho n tại các Ngân hàng Công thương Chi nhánh B o Lộc s 102010001499919 và Ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh Đà Lạt tài kho n s 0561000506406. Ngoài ra D cũng yêu cầu M mua sẵn một s cu n Séc rút tiền, phiếu lĩnh tiền của các Ngân hàng này yêu cầu M ký và đưa lại cho D. Ngoài s mua trước, D cũng gửi các tài liệu này qua nhà xe vận chuyển cho M. Sau đó, M ký tên, đóng dấu kh ng Công ty HĐN ở phần chủ tài kho n, các thông tin còn lại, do D tự điền để làm các thủ tục thanh toán tại các Ngân hàng khác nhau.

Sau khi có được s tài kho n của công ty HĐN, Lê Thùy D thực hiện việc chuyển tiền thanh toán vào tài kho n của Công ty HĐN và cũng tự ý sử dụng những chứng từ Séc và phiếu lĩnh tiền mặt do M ký sẵn để rút tiền ra từ tài kho n của công ty HĐN. Việc chuyển và rút ra như thế nào, thì M hoàn toàn không biết. Vào thời điểm cu i tháng, thì M lên công ty DN để đòi tiền bán hóa đơn thì D yêu cầu M ký tên, đóng dấu công ty HĐN vào những hợp đồng thể hiện việc mua bán cà phê do D soạn sẵn, ký vào các sổ giao nhận tiền, hàng, tiền thuế GTGT do D viết, ký sẵn vào phiếu nhập kho ở mục người giao hàng đã được D lập sẵn.

Với những hành vi nêu trên, từ ngày 01/06/2011 đến 26/05/2012 Công ty DN đã chuyển vào tài kho n cho Công ty HĐN tổng s tiền 326.636.126.000đ (ba trăm hai sáu tỷ sáu trăm ba sáu triệu một trăm hai sáu ngàn đồng). Và cũng chính thủ đoạn này, từ 01/06/2011 đến 26/05/2012 Lê Thùy D đã chỉ đạo nhân viên công ty DN rút ra từ tài kho n của Công ty HĐN tổng s tiền 326.636.126.000đ (ba trăm hai sáu tỷ sáu trăm ba sáu triệu một trăm hai sáu ngàn đồng). Quá trình điều tra xác định M không hề nhận được s tiền như đã nêu trên và cũng không rút tiền từ tài kho n trên. Toàn bộ hoạt động này là do người của Công ty DN thực hiện bằng các phiếu lĩnh tiền mặt, Séc rút tiền do Đồng Hiếu M ký sẵn. Trong đó M ký kh ng 151 tờ Séc, 23 phiếu lĩnh tiền mặt và các b ng kê chi tiền, hóa đơn GTGT và phiếu dịch vụ tại các ngân hàng gồm: Ngân hàng Nông nghiệp Nam Lâm Đồng; Ngân hàng Công thương B o Lộc; Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Đà Lạt. Trong s 212 hóa đơn mua trái phép của M, thì M trực tiếp viết 35 hóa đơn, em của M là Đồng Hiếu N viết 32 hóa đơn; s còn lại M xuất kh ng nên người của Công ty DN viết là 145 Hóa đơn.

Nhằm đ i phó với cơ quan chức năng, D yêu cầu M ph i ký vào sổ giao nhận tiền mặt như đã nêu ở trên. Trong đó thể hiện tại cu n sổ giao nhận tiền hàng s tiền 308.995.275.505đ (ba trăm lẻ tám tỷ chín trăm chín lăm triệu hai trăm b y lăm ngàn năm trăm lẻ năm đồng). Tuy nhiên với kết luận giám định s 803/GĐ-PC54 cho thấy: Trong 197 chữ ký trong sổ nhập hàng theo hóa đơn đầu vào, thì chỉ có 192 chữ ký do Minh ký; 05 chữ ký còn lại không ph i do M ký; trong 213 chữ ký trong cu n phiếu nhập kho thì có 98 chữ ký do M ký, còn lại 115 chữ không ph i do M ký.

Như vậy bằng các hành vi nêu trên, Đồng Hiếu M đã bán trái phép tổng cộng 250 hóa đơn GTGT cho Lê Thùy D để hưởng lợi s tiền 465.000.000đ. (b n trăm sáu lăm triệu đồng) Trong đó, D gửi qua nhà xe Thành Bưởi s tiền 445.000.000đ (b n trăm b n lăm triệu đồng), còn lại 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), M trực tiếp nhận từ D trong kho ng tháng 5/2011 tại trụ sở Công ty DN, s 36, thôn TP, xã ĐL, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Toàn bộ s tiền này Đồng Hiếu M sử dụng tr nợ ngân hàng và tiêu xài hết. Trong s 250 hóa đơn GTGT do Đồng Hiếu M bán, Lê Thùy D đã sử dụng 212 hóa đơn để kê khai khấu trừ thuế đầu vào nhằm tr n thuế với s tiền 15.430.870.829đ. (mười lăm tỷ, b n trăm ba mươi triệu, tám trăm b y mươi ngàn, tám trăm hai chín đồng).

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đồng Hiếu M 01 điện thoại Iphone5S, s seri: C34M88PKFRC6, Imei: 358842059670078 (có 01 thẻ sim); 01 điện thoại Nokia 110, s Imei1: 353257050788867, Imei2: 353257050788875 (có 02 thẻ sim) ; 01 thẻ ATM ngân hàng Sacombank mang s 9704035803335161. Tạm giữ của Đồng Hiếu M s tiền 145.000.000đ (Một trăm b n mươi lăm triệu đồng).

B n án s 114/2017/HSST ngày 27-12-2017 của Tòa án nhân dân thành ph B o Lộc tuyên b bị cáo Đồng Hiếu M phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”.

Áp dụng điểm d, đ, g kho n 2 Điều 164a; điểm b, p, kho n 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999; Nghị quyết s 41/2017/QH14 của Qu c Hội; điểm x kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Đồng Hiếu M 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2016 đến ngày 23/9/2016.

B n án còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 08/01/2018 bị cáo kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt, xuất trình Huân chương kháng chiến hạng III của mẹ.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên kháng cáo, không thắc mắc, khiếu nại B n án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Qu c hội; kho n 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo nguyên tắc có lợi, xử phạt bị cáo bằng thời gian tạm giam là 08 tháng 20 ngày tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Do kinh doanh thua lỗ và cần v n nên Đồng Hiếu M đã thực hiện hành vi bán trái phép hóa đơn GTGT, bị cáo đã bán trái phép tổng cộng 250 hóa đơn GTGT cho Lê Thùy Diễm để hưởng lợi s tiền 465.000.000 đ. Trong s 250 hóa đơn GTGT do Đồng Hiếu M bán, Lê Thùy D đã sử dụng 212 hóa đơn để kê khai khấu trừ thuế đầu vào nhằm tr n thuế với s tiền 15.430.870.829đ. Hành vi của bị cáo Đồng Hiếu M đã bị cấp sơ thẩm tuyên xử về tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước” tội phạm và hình phạt quy định tại kho n 2 Điều 164a Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo xin gi m nhẹ hình phạt:

Khi xét xử cấp sơ thẩm có áp dụng các tình tiết gi m nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn h i c i; đã nộp lại được 230.000.000 đồng s tiền thu lợi bất chính nên được áp dụng các tình tiết gi m nhẹ quy định tại điểm b, p kho n 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; bị cáo có thời gian phục vụ quân đội nên cấp sơ thẩm áp dụng Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Qu c hội để áp dụng thêm tình tiết gi m nhẹ được quy định tại điểm x kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo quy định tại Kho n 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì khởi điểm của khung hình phạt là phạt tiền. Như vậy, kho n 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhẹ hơn khung hình phạt kho n 2 Điều 164a Bộ luật Hình sự năm 1999 nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng theo nguyên tắc có lợi là thiếu sót, đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình Huân chương kháng chiến hạng III của mẹ bị cáo nên Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thêm Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Qu c hội; kho n 2 Điều 203; kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để chấp nhận kháng cáo, gi m hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.

Về án phí:

Cấp sơ thẩm buộc bị cáo ph i nộp 11.750.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm là trái với quy định tại Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội. Bởi lẽ, đ i với kho n tiền thu lợi bất chính ph i nộp lại để sung vào ngân sách thì không thuộc trường hợp ph i chịu án phí dân sự nên cấp phúc thẩm sửa phần án phí dân sự sơ thẩm.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Đồng Hiếu M không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, kho n 1 Điều 355; điểm c, kho n 1 Điều 357 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đồng Hiếu M, sửa b n án sơ thẩm.

Tuyên b bị cáo Đồng Hiếu M phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”.

Áp dụng điểm d, đ, g kho n 2 Điều 164a; điểm b, p kho n 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999; Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Qu c hội; kho n 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm x kho n 1, kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đồng Hiếu M 08 tháng 20 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2016 đến ngày 23/9/2016 (đã thi hành xong).

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội. Bị cáo Đồng Hiếu M không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm và không ph i chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ