vanban.org

Bản án 18/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 4 điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật tố

tụng dân sự; Điều 51, 56, điều 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Chu Thị Đ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 4 điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật tố
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số:18/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 10/7/2018
V/v tranh chấp:
“Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có.

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Mạc Thị Hồng

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Thị Hồng Khánh

2. Ông Nguyễn Văn Duẩn

- Thư ký phiên toà: bà Tạ Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phổ

Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà

Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, xét xử sơ

thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2018/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 04 năm 2018, về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐXX-ST ngày 04 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Chu Thị Đ - sinh năm 1995 (có mặt)

HKTT: khu 6, xã H, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ

Bị đơn:

anh Đặng Hồng H - sinh năm 1990 (vắng mặt)

HKTT : xóm Đ, xã Đ, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Chu

Thị Đ trình bầy: chị và anh Đặng Hồng H kết hôn năm 2016, có ĐKKH kết hôn tại UBND xã H, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Sau khi kết hôn chị về quê anh Hạnh tại xóm Đ, xã Đ, thị xã Phổ Yên, vợ chồng

ở chung với bố mẹ một thời gian. Từ tháng 11/2017 vợ chồng ra ở giêng trên đất của bố mẹ chồng. Vợ chồng chỉ chung sống hạnh phúc khoảng 2 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do kinh tế khó khăn, sau khi có con chung chỉ có mình anh H đi làm (thợ xây), chị ở nhà chăm con, nhưng con còn nhỏ lại hay ốm đau, kinh tế gia đình vì vậy gặp khó khăn.

Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, xô sát, nhiều

lần chị bị anh H đánh, ngay cả khi chị mang thai gần đến ngày sinh anh H cũng đánh vào đầu chị gây chảy máu.

Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng từ ngày 3/4/2018, khi anh H đi uống rượu sau

đó lại đi chơi, không về nhà. Do con bị ốm chị đi gọi anh H về, nhưng anh H không về, sau đó mẹ anh H gọi, anh H về và đánh chị. Ngày hôm sau chị nói với anh H và xin phép mẹ chồng cho bế con về bên ngoại ở, nhưng anh H không cho bế con đi. Chị bỏ về bố mẹ đẻ ở từ 4/4/2018 cho đến nay.

Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, yêu cầu giải quyết ly hôn.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Đặng Bảo L, sinh ngày 14/05/2017,

chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: vợ chồng không có tài sản chung

Công nợ chung, các khoản cho vay chung: không có

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh

Đặng Hồng H trình bày: Anh và chị Đ kết hôn năm 2016, có ĐKKH tại UBND xã H, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh tại xóm Đ, xã Đ, thị xã

Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Trong quá trình chung sống vợ chồng thường hay xảy ra cãi cọ, thậm chí là xô

sát. Nguyên nhân do vợ chồng mới ra ở giêng nhưng thu nhập gia đình chỉ do mình anh đi làm lo cho cả gia đình, chị Đ ở nhà chăm con nhỏ. Nhưng mặc dù chỉ lo cho con chị Đ cũng không lo nổi cho con cái, việc nhà. Khi vợ chồng mâu thuẫn chị Đ cũng chửi láo với anh, do nóng giận nên anh có đánh chị Đ.

Ngày 3/4/2018 vợ chồng lại xảy ra đánh nhau, chị Đ bỏ về quê ngoại ở cho đến

nay. Thực tế trước đó cũng rất nhiêu lần chị Đ bỏ về gia đình bố mẹ đẻ ở, anh đi đón về thì vợ chồng lại tiếp tục chung sống, nhưng lần này anh quyết định không đi đón chị Đ nữa, vợ chồng ly thân cho đến nay.

Chị Đ làm đơn ly hôn anh không đồng ý do vẫn còn tình cảm vợ chồng, hiện tại

chị Đ lại đang có thai con chung thứ 2 của vợ chồng.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Đặng Bảo L, sinh ngày 14/05/2017,

Nếu phải ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: vợ chồng không có tài sản chung

Công nợ chung, các khoản cho vay chung: không có

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Phổ Yên phát biểu ý kiến:

*Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, hội đồng xét xử vụ án, thư

ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được

phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 28, 35, 39 BLTTDS về thẩm quyền thụ lý; Điều 68 về xác định tư cách tham gia tố tụng; Điều 96, 97 BLTTDS về xác minh, thu thập, giao nhận chứng cứ; Điều 195 BLTTDS về việc thụ lý, giao nhận Thông báo thụ lý vụ án cho đương sự; Điều 203 về thời hạn chuẩn bị xét xử; Điều 205, 208, 209, 210, 211 BLTTDS về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tuy nhiên, quyết định đưa vụ án ra xét xử và hồ sơ vụ án gửi cho VKS chưa

đảm bảo thời hạn, vi phạm quy định tại khoản 2 điều 220 BLTTDS.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử

đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình

giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án

Việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng: Nguyên

đơn đã thực hiên jđúng, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của BLTTDS.

*Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về Luật áp dụng: Áp dụng điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình;

điều 266 BLTTDS; khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016.

Đề nghị: cho chị Đ được ly hôn với anh H.

- Về con chung: Giao chị Đ nuôi dưỡng con chung Đặng Bảo L, sinh ngày

14/05/2017. Chị Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh H cho đến khi chị Đ có yêu cầu. Anh H được quyền thăm, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung

- Về tài sản chung, khoản nợ chung, cho vay chung: đều không có.

- Về án phí: Chị Chu Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa. Sau khi nghe đại diện VKS phát biểu quan điểm chấp hành pháp luật tố tụng và quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Chị Chu Thị Đ có hộ khẩu thường trú tại khu 6, xã H, huyện

Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Chị Đ có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con chung đối với anh Đặng Hồng H, có hộ khẩu thường trú tại xóm Đ, xã Đ, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên. Căn cứ điều 28, điều 35, điều 39 BLTTDS năm 2015, Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn của anh chị là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn, anh Đặng Hồng H vắng mặt (lần 2, không có lý

do). Do đó HĐXX căn cứ điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt bị đơn trong vụ án.

. Về nội dung: Chị Chu Thị Đ và anh Đặng Hồng H kết hôn năm 2016, có

đăng ký kết hôn, được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng bố mẹ anh H một thời gian thì

vợ chồng ra ở giêng. Anh chị cùng thừa nhận trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thậm chí xô sát. Nguyên nhân anh chị đều cho rằng do kinh tế khó khăn, con nhỏ, trong gia đình chỉ có anh H đi làm. Nhiều lần vợ chồng có mâu thuẫn chị Đ bỏ về bố mẹ đẻ ở, nhưng sau đó lại quay về đoàn tụ, lần cuối chị Đ bỏ đi là ngày 04/04/2018 cho đến nay.

Tại phiên tòa chị Đ yêu cầu được ly hôn, anh H vắng mặt tại phiên tòa. Quá

trình giải quyết vụ án anh không đồng ý ly hôn, cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn.

Xét thấy: Theo thừa nhận của anh chị cuộc sống chung vợ chồng của anh chị

không có hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn, nhưng anh chị không có sự thông cảm, chia sẻ để cùng nhau vượt qua, khắc phục khó khăn trước mắt. Đến nay mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự căng thẳng và kéo dài, anh Hạnh mong muốn đoàn tụ vợ chồng nhưng không có sự cố gắng, không có mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đ, cho anh chị được ly hôn.

. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Đặng Bảo L, sinh ngày

14/05/2017. Xét con chung của anh chị dưới 3 tuổi, chị Đ có nguyện vọng được nuôi dưỡng, vì vậy cần thiết giao con chung cho chị Đ nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi của con chung khi cha mẹ ly hôn.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con

chung, cần tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh H.

. Về tài sản chung và các khoản nợ chung, cho vay chung: anh chị xác

định đều không có.

. Về án phí: Chị Chu Thị Đ phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 4 điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật tố

tụng dân sự; Điều 51, 56, điều 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Chu Thị Đ

đối với anh Đặng Hồng H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị Đ và anh Đặng Hồng H được ly hôn.

- Về con chung: Giao con chung Đặng Bảo L, sinh ngày 14/05/2017 cho chị Đ

trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh H cho đến khi chị Đ có yêu cầu.

Anh H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được

cản trở. Vì lợi ích của các con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung, các khoản cho vay chung: đều không có

4. Về án phí: Chị Chu Thị Đ phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nộp

ngân sách nhà nước, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008541 ngày 16/04/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Đ, vắng mặt anh H tại phiên tòa. Báo

cho biết chị Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc niên yết kết quả xét xử./.

Cỡ chữ