vanban.org

Bản án 18/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho ông Phạm Văn H được ly hôn với bà Vũ Thị H.

Về con chung: Ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị H không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết. Về tài sản: Ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị H không có tài sản chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ông Phạm Văn H được ly hôn với bà Vũ Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18/2018/HNGĐ-ST
Ngày 03-5-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Khanh

Bà Tạ Thị Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly -Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên tòa: Ông Lê Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1970. Địa chỉ: Khu dân cư TH, thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn 3, xã V, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử nguyên đơn ông Phạm Văn H trình bày: Ông và bà Vũ Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 08-6-2017. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hòa thuận được 03 tháng thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau nên đã xảy ra xô sát, bất hòa . Từ tháng 9/2017 đến nay, ông bà sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, ông đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Vũ Thị H.

Về con chung: Ông và bà Vũ Thị H không có con chung.

Về tài sản: Ông và bà Vũ Thị H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai bà Vũ Thị H trình bày: Bà và ông Phạm Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 08-6-2017. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hòa thuận được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau nên đã xảy ra xô sát, bất hòa . Từ tháng 9/2017 đến nay ông bà sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay ông H xin ly hôn bà đồng ý ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà và ông Phạm Văn H không có con chung.

Về tài sản: Bà và ông Phạm Văn H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà ông H vẫn giữ nguyên lời trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Vũ Thị H. Về con chung, tài sản chung, ông và bà H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, việc xét xử vắng mặt bị đơn cũng như các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn chấp hành yêu cầu của Tòa án về việc giao nộp chứng cứ, tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa; bị đơn không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa. Tuy nhiên, việc bị đơn vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Về hôn nhân: Xử cho ông Phạm Văn H được ly hôn với bà Vũ Thị H. Về con chung, tài sản chung: Ông H và bà H không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Ông Phạm Văn H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án về ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Bị đơn bà Vũ Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, tuy nhiên bà H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Vũ Thị H

- Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị H kết hôn ngày 08/6/2017, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hòa thuận đến tháng 9/2017 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau, luôn bất đồng quan điểm nên đã xảy những bất hòa . Do mâu thuẫn vợ chồng nên từ tháng 9/2017 đến nay ông H và bà H sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay ông H nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà H . Bà H vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án bà H đồng ý ly hôn với ông H. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông H và bà H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu của ông Phạm Văn H xin ly hôn với bà Vũ Thị H phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình được chấp nhận.

Về con chung: Ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị H không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản: Ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị H không có tài sản chung, không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6 điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Phạm Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 146, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho ông Phạm Văn H được ly hôn với bà Vũ Thị H.

2. Về con chung: Ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị H không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản: Ông Phạm Văn H và bà Vũ Thị H không có tài sản chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Ông Phạm Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Ông H đã nộp tạm ứng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0015889 ngày 18-01-2018. Ông Phạm Văn H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo lên toà án cấp trên để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ