- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Vũ Thị G và bị đơn anh Vũ Mạnh Q"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị G được ly hôn anh Vũ Mạnh Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN TIÊN LỮ TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2018/HNGĐ-ST Ngày: 05/9/ 2018 "V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ - TỈNH HƯNG YÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Đào Văn Ngà
2.Bà Vũ Thị Toan.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52 /2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2018; Quyết định hoãn phiên toà số 11/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20/8/2018, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị G - sinh năm 1996. Có mặt
Địa chỉ: thôn LC, xã TL, huyện TL, tỉnh HY
2. Bị đơn: Vũ Mạnh Q - sinh năm 1994. Vắng mặt
Trú tại: Thôn TL, xã TL, huyện TL, tỉnh HY
3. Người làm chứng:
- Bà Chu Thị Kim D.Vắng mặt
Trú tại: Thôn LC, xã TL, huyện TL, tỉnh HY
- Bà Vũ Thị V. Vắng mặt
Trú tại: Thôn TL, xã TL, huyện TL, tỉnh HY
NỘI DUNG VỤ ÁN
Chị Vũ Thị G và anh Vũ Mạnh Q được tự do tìm hiểu, quyết định tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Anh chị có đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 29/6/2017 tại UBND xã TL và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Ngay sau ngày cưới, vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn, giữa hai vợ chồng không có một khoảng thời gian hạnh phúc nào. Vì khi về chung sống, anh Q đã thể hiện là người mải chơi, không chịu làm, chị có lựa lời để khuyên răn nhưng anh Q không nghe, thường lảng đi chỗ khác và thậm chí còn lừa dối chị rất nhiều lần. Anh Q về báo nợ số tiền lên tới 400 triệu đồng bảo chị đi vay trả nợ, thường xuyên tra khảo chị về tài chính, bắt chị trả lãi hàng tháng đối với khoản nợ trên khiến chị không chịu đựng được, tâm lý chị lúc nào cũng mệt mỏi, chán nản. Chị cho rằng anh Q kết hôn với chị không phải vì tình yêu mà chỉ nhằm mục đích để trả nợ thay cho anh Q. Ngày 15/10/2017, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng, anh Q đuổi chị ra khỏi nhà nên chị đã dọn đồ đạc bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Q để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng chưa có con
Về tài sản chung, công sức, nợ nần: Chị G không yêu cầu giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành giao các văn bản tố tụng tới gia đình anh Q đồng thời triệu tập anh Q đến Tòa án làm việc nhưng anh Q đều vắng mặt. Toà án đã về gia đình và làm việc với bà Vũ Thị V là mẹ đẻ của anh Q đồng thời xác minh tại chính Q địa phương thì gia đình và địa phương cho biết anh Q có nhận được toàn bộ các văn bản tố tụng của Toà án như thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, kết quả phiên hoà giải….Bà V xác nhận anh Q có biết việc Tòa án triệu tập đến để giải quyết vụ án nhưng anh cố tình không đến. Anh Q có ý kiến nếu chị G cương quyết xin ly hôn thì anh Q cũng nhất trí, không phản đối gì, anh để chị G tự giải quyết ly hôn đơn phương.
Quá trình thu thập chứng cứ xác minh tại chính Q địa phương xã TL, lấy lời khai của những người làm chứng bà Vũ Thị V là mẹ đẻ của anh Q; bà Chu Thị Kim D mẹ đẻ của chị G thể hiện chị G, anh Q chỉ kết hôn được thời gian ngắn khoảng 3 tháng thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ đó đến nay. Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được.
Tại phiên toà hôm nay, chị Vũ Thị G vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Vũ Mạnh Q; anh Q mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Q.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Hoạt động thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo khách quan. Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng các quy định về Q, nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Đồng thời, kiểm sát viên cũng phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Mối quan hệ hôn nhân giữa chị G và Q Hay đã trầm trọng. Anh Q có thái độ bỏ mặc chị G giải quyết việc ly hôn và có ý kiến nếu chị G cương quyết ly hôn thì anh Q cũng nhất trí mà không phản đối. Xét thấy đời sống chung của anh chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án chấp nhận cho chị Vũ Thị G được ly hôn đối với anh Vũ Mạnh Q. Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung. Về tài sản chung, nợ nần: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị G phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1].Về tố tụng: Chị Vũ Thị G khởi kiện xin ly hôn anh Vũ Mạnh Q có nơi cư trú tại thôn TL, xã TL, huyện TL, tỉnh HY nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Tiên Lữ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điển a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Anh Q mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt không có lý do tại phiên tòa ngày 20/8/2018 nên Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ đã ra Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2018/QĐST-HNGĐ, ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 05/9/2018. Anh Q đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Q.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị G và anh Q được tự do tìm hiểu, kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thuỵ Lôi, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên theo giấy chứng nhận kết hôn được cấp vào sổ thứ tự số 28/2017 ngày 29/6/2017. Do vậy, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau một thời gian chung sống rất ngắn và không có hạnh phúc, anh chị phát sinh mâu thuẫn, chị G đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ ngày 15/10/2017. Nguyên nhân theo chị G trình bày là do anh Q mải chơi, lười làm, lừa dối chị G và báo một khoản nợ lớn bắt chị đi vay để trả nợ, anh Q lấy chị không vì tình yêu mà lấy chị về để trả nợ. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án không lấy được lời khai của anh Q về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng, nhưng qua cung cấp của chính Q địa phương và gia đình hai bên có căn cứ xác định anh chị chung sống không hạnh phúc, kết hôn được thời gian rất ngắn đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân từ đó đến nay. Bên cạnh đó, khi Toà án thông báo cho anh Q đến Toà án để làm việc, hoà giải về mâu thuẫn vợ chồng thì anh Q đã không có mặt. Điều này thể hiện anh Q không có ý thức hàn gắn tình cảm vợ chồng. HĐXX xác định anh chị không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị G.
. Về con chung: Anh chị chưa có con chung.
. Về tài sản chung: Chị G không có yêu cầu Toà án giải quyết, anh Q cố tình trốn tránh, không hợp tác nên Toà án không có căn cứ xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
. Về án phí: Chị Vũ Thị G phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51; 56 và 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147 BLTTDS:
Xử:
1.Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị G được ly hôn anh Vũ Mạnh Q.
2.Về con chung: Không có
3.Về tài sản chung, công sức, nợ nần: Không xem xét, giải quyết.
4.Về án phí: Chị Vũ Thị G phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 004231 ngày 23/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ. Chị G đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Tòa báo cho nguyên đơn biết được Q kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn biết được Q kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; -UBND xã Thuỵ Lôi; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hương |