vanban.org

Bản án 18/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng T và anh Phùng Hoàng L.

Về con chung: Giao con chung Phùng Hoàng K, sinh ngày 04/7/201 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng T và anh Phùng Hoàng L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 30/7/2018.
“V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Lâm.

2. Ông Lý Thanh Chiều.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Thừa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng T (có mặt);

Địa chỉ: Số 3, khóm , phường , thị xã Ngã N, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Anh Phùng Hoàng L (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Phước L, xã Mỹ P, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 5 năm 2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trần Thị Hồng T trình bày:

- Về quan hê ̣ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng T và anh Phùng Hoàng L thương yêu và được hai gia đình tổ chức đám cưới. Chị T và anh L có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ P, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc Trăng, cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/9/2009. Sau khi cưới ở chung với gia đình chồng được 02 năm, vợ chồng ra ở riêng được 06 tháng thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn anh L đi nhậu về hay chửi và đánh đập chị T rất nhiều lần, nên chị T sống chung không được và trở về nhà cha mẹ ruột tại số 3, khóm , phường , thị xã Ngã N, tỉnh Sóc Trăng sinh sống cho đến nay.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị T và anh L có 01 con chung tên Phùng Hoàng K, sinh ngày 04/7/201, hiện nay sống với chị T.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Chị Trần Thị Hồng T yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng T yêu cầu ly hôn với anh Phùng Hoàng L.

- Về con chung: Sau khi ly hôn chị T yêu cầu tiếp tu ̣c nuôi dưỡng con chung tên Phùng Hoàng K, sinh ngày 04/7/201 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Phùng Hoàng L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; biên bản không tiến hành hòa giải được và thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn anh Phùng Hoàng L chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Hồng T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn và nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn là anh L có địa chỉ cư trú tại ấp Phước L, xã Mỹ P, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn anh Phùng Hoàng L đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng anh L vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Phùng Hoàng L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng T và anh Phùng Hoàng L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ P, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc Trăng, cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 90, quyển số 1 ngày 09/9/2009. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh L.

Xét lý do xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi kết hôn chị T và anh L chung sống với nhau có 01 người con chung. Tuy nhiên, chị T và anh L bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ tháng 2 năm 2012, nguyên nhân mâu thuẫn do anh L đi nhậu về hay chửi và đánh đập chị T từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi, từ tháng 2/2012 cho đến thời điểm hiện tại anh chị không còn sống chung, mỗi người sống một nơi, không quan tâm, chăm sóc cho nhau, làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị T và anh L có 01 người con chung tên Phùng Hoàng K, sinh ngày 04/7/201, hiện nay sống với chị T. Chị T yêu cầu tiếp tục nuôi con chung Phùng Hoàng K đến tuổi trưởng thành. Xét thấy, từ khi anh chị không còn sống chung với nhau cháu K do chị T nuôi dưỡng, cuộc sống đã ổn định về mặt vật chất cũng như tinh thần. Tòa án ghi ý kiến cháu K, nếu như chị T và anh L ly hôn cháu K có nguyện vọng sống chung với chị T. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt cháu K. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giao Phùng Hoàng K, sinh ngày 04/7/2010 chị T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Căn cứ khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Anh L là người không trực tiếp nuôi cháu K, nên anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T có khả năng nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phi: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản

́ 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị T là người có đơn xin ly hôn, chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81 và khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng T và anh Phùng Hoàng L.

2. Về con chung: Giao con chung Phùng Hoàng K, sinh ngày 04/7/201 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009996 ngày 02/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy chị T nộp đủ án phí sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Phùng Hoàng L thì thời hạn kháng cáo nêu trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trinh tự phúc

̀ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ