vanban.org

Bản án 18/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phạm Duy H và bà Vũ Thị N.

2/ Án phí: Ông Phạm Duy H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ ông đã nộp tiền tạm ứng án phí ly hôn theo biên lai thu số AA/2017/0002719 ngày 09/10/2017 tại Chi cục thi hành án huyện L. Ông H đã nộp đủ tiền án phí. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phạm Duy H và bà Vũ Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG
--------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/HNGĐ-ST
Ngày 31/01/2018
V/v: Ly hôn giữa ông H
và bà N

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIAG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Văn Toan.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Thái

2. Ông Nguyễn Xuân Chung

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Thùy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện L.

- Đại diện VKSND huyện L tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành-KSV.

Ngày 31/01/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 401/2017/TLST- HNGĐ ngày 09/10/2017 về “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXX - ST ngày 02/01/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Duy H sinh năm 1958

Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Vũ Thị N sinh năm 1977

Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 17/8/2017 và tại các bản tự khai ông Phạm Duy H là nguyên đơn trình bày: Ông kết hôn với bà Vũ Thị N tháng 03/2006, trước khi kết hôn thì 2 bên được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Cưới xong vợ chồng ông về chung sống với nhau ngay. Vợ chồng sống hòa thuận đến cuối năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong phát triển kinh tế gia đình nên dẫn đến luôn có sự bất hòa với nhau, mọi công việc không đồng thuận, vợ chồng sống không bảo được nhau, việc của ai người đó làm, sống không có tình cảm hạnh phúc nên mọi quan hệ tình cảm vợ chồng cũng chấm dứt từ năm 2011 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà N.

Về con chung, tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Ông không đề nghị Tòa án giải quyết.

Do bận công việc ông xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.

Bị đơn là bà Vũ Thị N đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án để làm việc nhưng bà N vẫn cố tình không đến Tòa án mặc dù đã được Tòa án niêm yết và tống đạt các loại văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho bà N do bà Đỗ Thị A là mẹ đẻ nhận thay. Nhưng đến nay bà N vẫn không có bản tự khai gửi cho Tòa án. Tại các biên bản ghi lời khai bà Đỗ Thị A là mẹ đẻ bà N cho biết, các văn bản tố tụng của Tòa án huyện L gửi cho chị N bà nhận thay và đã giao lại trực tiếp cho chị N, hiện tại chị N đi làm ăn và vẫn thường xuyên về gia đình, chị N đã biết được Tòa án đang tiến hành giải quyết vụ án ly hôn giữa chị và ông H nhưng chị N cho biết sẽ không về Tòa án huyện L giải quyết ly hôn. Việc Tòa án huyện L giải quyết như nào là quyền của Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay chị N vẫn vắng mặt.

Tại phiên toà đại diện VKS phát biểu ý kiến, thẩm phán, thư ký được phân công giải quyết vụ án tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật còn bị đơn không nghiêm túc chấp hành, đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo quy định của pháp luật và áp dụng các Điều 51; 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 BLTTDS và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy bA thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phạm Duy H và bà Vũ Thị N.

Án phí: Ông Phạm Duy H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm vấn tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trAh luận tại phiên tòa, ý kiến của KSV, HĐXX nhận thấy:

Về tố tụng: Ngày 02/01/2018 Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và đã giao quyết định xét xử cho ông H và bà N do mẹ đẻ là bà Đỗ Thị A nhận thay và đã niêm yết quyết định xét xử tại địa phương đối với bà N. Nhưng bà N vắng mặt tại phiên tòa xét xử ngày 16/01/2018, còn ông H có mặt tại phiên tòa. Tại quyết định hoãn phiên tòa số 02 ngày 16/1/2018 Tòa án đã ấn định vụ án xét xử vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 31/01/2018 nhưng tại phiên tòa bà N vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227; 228 BLTTDS, HĐXX tiếp tục xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Ông Phạm Duy H và bà Vũ Thị N kết hôn ngày 10/3/2006 trên cơ sở tự nguyện hợp pháp. Mặc dù chưa có con chung nhưng tình cảm giữa ông H và bà N vẫn không xây dựng hạnh phúc được với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn từ cuối năm 2010 giữa ông H và bà N luôn xảy ra bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong phát triển kinh tế gia đình, dẫn đến hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, từ đó vợ chồng không quan tâm gì đến nhau, việc của ai người đó làm, sống lạnh nhạt không có hạnh phúc, ông H và bà N chấm dứt mọi quan hệ tình cảm với nhau từ ăm 2011 cho đến nay. Qua xác minh tại địa phương được biết bà N vẫn thường xuyên về địa phương, hơn nữa mẹ đẻ bà N là bà Đỗ Thị A cho biết bà N hiện nay đang đi làm ăn nhưng vẫn thường xuyên về gia đình bà và đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án do bà trực tiếp giao, bà N biết được Tòa án đang tiến hành giải quyết ly hôn giữa bà và ông H nhưng bà N không tới Tòa án để giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình cảm giữa ông H và bà N không còn, mâu thuẫn căng thẳng kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho ông H được ly hôn bà N. Xét như vậy là phù hợp với Điều 51; 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung, tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Không có. Ông H không đề nghị Toà án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Nếu sau này bà N có đơn yêu cầu giải quyết thì Tòa án sẽ giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

Về án phí: Ông H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51; 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 BLTTDS và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016, xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phạm Duy H và bà Vũ Thị N.

2/ Án phí: Ông Phạm Duy H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ ông đã nộp tiền tạm ứng án phí ly hôn theo biên lai thu số AA/2017/0002719 ngày 09/10/2017 tại Chi cục thi hành án huyện L. Ông H đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt kết quả bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./. Nơi nhận :

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tỉnh ;

thÈm ph¸n- chñ täa phiªn tßa

- VKSND Tỉnh , Huyện;

- Chi cục T.H.A. dân sự huyện;

- UBND xã T ;

- Ng êi tham gia tè tông;

Hoµng V¨n Toan

- Lưu hồ sơ . VP./. Héi thÈm nh©n d©n

thÈm ph¸n- chñ täa phiªn tßa

Cỡ chữ