vanban.org

Bản án 18/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các Điều 14, 53, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điể…

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Thúy A và anh Nguyễn Văn Mỹ T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trí C, sinh ngày 07/6/2006 cho anh Nguyễn Văn Mỹ T chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Trí T, sinh ngày 11/01/2008 cho chị Nguyễn Thị Thúy A chăm sóc, nuôi dư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thúy A- Nguyễn Văn Mỹ T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 14, 53, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điể…
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 15/3/2018
“V/v ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Trần Thị Mộng Lành.

2- Bà Hoàng Thị Thoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lư Quốc Thịnh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 273/2017/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 12 năm 2017 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐXX-ST ngày 12 tháng 02 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2018/QĐST- HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy , sinh năm 1985 (có mặt).

2- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Mỹ T, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 30/11/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy A trình bày và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy A và anh Nguyễn Văn Mỹ T kết hôn nhau năm 2005, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.Vợ chồng chung sống đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T thường xuyên kiếm chuyện đánh đâp chị và thậm chí còn đốt nhà của cha mẹ chị nên đã bị Tòa án xử 02 năm tù về tội hủy hoại tài sản.Từ đó vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Mỹ T.

Về con chung: Có 02 đứa con tên Nguyễn Trí C, sinh ngày 07/6/2006 và Nguyễn Trí T, sinh ngày 11/01/2008.Từ khi chị và anh T ly thân thì cháu Nguyễn Chí C sống với anh T, còn cháu Nguyễn Trí T sống với chị A, cuộc sống của các cháu đã được ổn định và anh chị cũng có đủ điều kiện để nuôi con. Từ đó, khi ly hôn chị A yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Trí T và giao cháu Nguyễn Trí C cho anh T nuôi dưỡng, chị và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy A thừa nhận không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Mỹ T Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị A.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Thúy A vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Mỹ T.

Về con chung: Chị yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trí T và giao cháu Nguyễn Trí C cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng, chị và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết. Ngoài ra chị không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Nguyễn Văn Mỹ T vắng mặt.

Quan điểm của đại diện viện Viện kiểm sát:

Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.

Về phần nội dung:

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Thúy A và anh Nguyễn Văn Mỹ T.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy A xử: Giao cháu Nguyễn Trí C, sinh ngày 07/6/2006 cho anh Nguyễn Văn Mỹ T chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Trí T, sinh ngày 11/01/2008 cho chị Nguyễn Thúy A chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị A và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, phần nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy A không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, nuôi con và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Nguyễn Văn Mỹ T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn Mỹ T.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy A và anh Nguyễn Văn Mỹ T kết hôn với nhau như vào năm 2005, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (theo xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T ngày 22/11/2017) nên quan hệ hôn nhân của chị A và anh T là không hợp pháp.

Tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Khoản 1 Điều 14 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 53 và khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Thúy A và anh Nguyễn Văn Mỹ T.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy A và anh Nguyễn Văn Mỹ T có 02 người con là Nguyễn Trí C, sinh ngày 07/6/2006 và Nguyễn Trí T, sinh ngày 11/01/2008, chị A yêu cầu xin được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trí T và giao cháu Nguyễn Trí C cho anh T nuôi dưỡng, anh chị không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, yêu cầu của chị A là có cơ sở. Bởi vì, từ khi ly thân cho đến nay thì anh T nuôi cháu Nguyễn Trí C và chị A nuôi cháu Nguyễn Trí T, cuộc sống của các cháu đã ổn định và anh chị cũng có đủ điều kiện để nuôi con, đồng thời theo nguyện vọng của các cháu. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị A xử giao cháu Nguyễn Trí C cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Trí T cho chị A chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị A và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy A thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Thúy A phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0001315, ngày 22/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị A đã nộp đủ tiền án phí.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nêu trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Các Điều 14, 53, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Thúy A và anh Nguyễn Văn Mỹ T.

2.Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trí C, sinh ngày 07/6/2006 cho anh Nguyễn Văn Mỹ T chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Trí T, sinh ngày 11/01/2008 cho chị Nguyễn Thị Thúy A chăm sóc, nuôi dưỡng (theo nguyện vọng của cháu Công và cháu T). Anh T và chị A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh T và chị A có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị A và anh T có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3- Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy A thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Thúy A phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0001315, ngày 22/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị A đã nộp đủ tiền án phí.

5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị A có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/3/2018). Đối với anh T vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ