vanban.org

Bản án 18/2018/DSST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 12.

[2]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Nhật Tr bà Võ Tòng Ch về việc: “Tranh chấp h p đ ng mua bán tài sản” đối với ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị M1. Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị M1 phải hoàn trả cho bà Võ Tòng Ch và ông Phạm Nhật Tr số số tiền 109.938.000đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Nguyễn Nhật Tr - Nguyễn Văn H1"
  • Tòa quyết gì? [1]. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 12.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC
TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/DSST
Ngày 23/5/2018
V/v: Tranh chấp h p
đ ng mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H1 XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Ngọ Văn Tỉnh.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trịnh Thị Mai Hương

2. Ông Nguyễn Ngọc Khanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Trang – Thư ký Tòa án

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Luyến – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2018/TLST- DS ngày 25 tháng 01 năm 2018 về việc “Tranh chấp h p đ ng mua bán cám”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐST-DS ngày 24/4/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2018/QĐST –DS ngày 10/5/2018 giữa

1. Nguyên đơn:

1.1. Ông Phạm Nhật Tr, sinh năm 1966

1.2. Bà Võ Tòng Ch, sinh năm 1969

Cùng trú: Tổ 8, ấp 2, xã BR, huyện XM, tỉnh BR-VT

2. Bị đơn:

2.1. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968

2.2. Bà Lý Thị M1, sinh năm 1968

Địa chỉ: Tổ 13, ấp 2, xã BR, huyện XM, tỉnh BR-VT

(Ông Tr, bà Ch, bà M1 có mặt; ông H1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/01/2018 và các biên bản làm việc tiếp theo tại Tòa án cũng như tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn tr nh bày như sau:

V ch ng ông Tr và bà Ch là chủ cửa hàng bán thức ăn chăn nuôi tại xã Bưng Riềng, huyện Xuyên Mộc.

Năm 2012 thì v ch ng ông H1, bà M1 bắt đầu mua cám của v ch ng ông Tr và bà Ch, việc mua cám đư c thực hiện nhiều lần, sau mỗi đ t mua và đến khi bán heo thì ông H1 và bà M1 đều có thanh toán, số tiền mua cám đư c trả dần theo từng đ t.

Đến ngày 20/7/2017 thì hai bên chốt khoản n theo đó bà M1 và ông H1 còn n lại của ông Tr và bà Ch số tiền 170.839.000đ, sự việc này có sự xác nhận của bà M1, sau đó các bên lại tiếp tục mua bán và đến ngày 12/9/2017 thì ông H1, bà M1 còn n ông Tr và bà Ch số tiền 121.938.000 đ ng, ông Tr và bà Ch đã nhắc n nhiều lần nhưng ông H1, bà M1 cố tình dây dưa, không thanh toán. Quá trình khởi kiện tại Tòa án thì vào ngày 10/02/2018 ông H1 và bà M1 có thanh toán cho ông Tr và bà Ch đư c thêm 12.000.000đ, do đó tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 12.000.000đ, chỉ yêu cầu ông H1 và bà M1 hoàn trả số tiền 109.938.000đ và không yêu cầu tính lãi suất đối với món n 109.938.000đ tính từ ngày 12/9/2017 đến nay.

Theo biên bản làm việc tiếp theo tại Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị M1 trình bày như sau:

Năm 2012 thì v ch ng ông H1, bà M1 bắt đầu mua cám của v ch ng ông Tr và bà Ch, việc mua cám đư c thực hiện nhiều lần, sau mỗi đ t mua và đến khi bán heo thì ông H1 và bà M1 đều có thanh toán, số tiền mua cám đư c trả dần theo từng đ t.

Đến ngày 20/7/2017 thì hai bên chốt khoản n theo đó bà M1 và ông H1 còn n lại của ông Tr và bà Ch số tiền 170.839.000đ, sự việc này có sự xác nhận của bà M1, sau đó các bên lại tiếp tục mua bán và đến ngày 12/9/2017 thì ông H1, bà M1 xác nhận còn n v ch ng ông Tr và bà Ch số tiền 121.938.000 đ ng nhưng các bên không thống nhất đư c phương án trả n . Sau này vào ngày 10/02/2018 ông H1 và M1 có trả thêm cho ông Tr và bà Ch số tiền 12.000.000đ, do đó khoản n mà bị đơn còn n nguyên đơn cho đến ngày xét xử chỉ còn 109.938.000đ, ông H1 và bà M1 đ ng ý trả số tiền này cho nguyên đơn nhưng nguyên đơn phải cho trả dần theo từng thời điểm và việc thanh toán n phải kéo dài trong vòng 02 năm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay của Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn - bà M1 chấp hành pháp luật và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn là ông H1 vắng mặt trong các phiên H1 giải và tại phiên tòa là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “tranh chấp h p đ ng mua bán tài sản” đối với ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị M1

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong h sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định:

Về tố tụng, thẩm quyền:

Tại phiên tòa, bị đơn là ông Nguyễn Văn H1 dù đã đư c Tòa án triệu tập h p lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó xét xử vắng mặt ông Nghĩa là phù h p với Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp H p đ ng mua bán tài sản” giữa ông Phạm Nhật Tr bà Võ Tòng Ch và ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị M1 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc quy định tại Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu tranh chấp của đương sự:

Qua lời khai thừa nhận của nguyên đơn, bị đơn đã đủ cơ sở xác định: Phạm Nhật Tr bà Võ Tòng Ch và ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị M1 có quan hệ mua bán cám của nhau là đúng, quá trình tham gia tố tụng các bên đếu thống nhất số n hiện nay ông H1 và bà M1 còn n ông Tr và bà Ch số tiền 109.938.000đ là tiền mua bán cám và đ ng ý trả số tiền này cho ông Tr bà Ch thì đây là những sự thật không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tham gia tố tụng các bên chỉ không thống nhất đư c thời điểm thanh toán số n này, ông Tr và bà Ch yêu cầu phải thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, còn ông H1 và bà M1 thì cho rằng, cần phải có lộ trình thanh toán.

Xét ý kiến của các bên cho thấy, khi giao kết và thực hiện h p đ ng mua bán cám, các bên đều chỉ thống nhất với nhau khi bên mua cám cần thiết thì sẽ mua và đư c ghi n , bên mua sẽ thanh toán hết tiền cám khi heo xuất chu ng mà không thỏa thuận cụ thể thời điểm bên mua phải thanh toán. Sau khi xác nhận khoản n vào 12/9/2017 và sau này khi bị đơn trả thêm tiền cho nguyên đơn với số tiền 12.000.000đ thì các bên cũng không cam kết lại đến khi nào thanh toán, do đó, Hội đ ng xét xử xét thấy đây là khoản n không xác định thời hạn, vì vậy cần buộc bị đơn phải trả số tiền 109.938.000đ cho nguyên đơn là phù h p với các điều 302, 428 429, 438 Bộ luật dân sự năm 2005

Về lãi suất phát sinh: tại phiên tòa, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật. Xét việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù h p nên ghi nhận.

Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 24, Điều 27 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội trên số tiền nguyên đơn khởi kiện đư c chấp nhận, cụ thể như sau:

Ông H1 và bà M1 phải nộp (109.938.000đ x 5%) = 5.496.900đ án phí dân sự sơ thẩm;

Nguyên đơn đư c trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 305, 428 429, 438 Bộ luật Dân sự; Điều 24, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Tuyên xử:

[1]. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 12.000.000đ tiền gốc và lãi suất phát sinh của số tiền 121.938.000đ.

[2]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Nhật Tr bà Võ Tòng Ch về việc: “Tranh chấp h p đ ng mua bán tài sản” đối với ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị M1.

Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị M1 phải hoàn trả cho bà Võ Tòng Ch và ông Phạm Nhật Tr số số tiền 109.938.000đ.

Kể từ ngày người đư c thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải chịu thêm khoản tiền lãi tính theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án và số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị M1 phải nộp số tiền 5.496.900đ án phí dân sự sơ thẩm;

Bà Võ Tòng Ch và ông Phạm Nhật Tr đư c hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí là 3.050.000đ (Ba triệu không trăm năm mươi nghìn đ ng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007313 ngày 12/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự đư c quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên toà đư c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc đư c niêm yết bản án.

Tr h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lụât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ