vanban.org

Bản án 18/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ch.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Về án phí:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn C-Liêu Thị Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 474 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/DS-ST.
Ngày: 20-7-2018.
V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Toàn.

Các hội thẩm nhân dân:

1.Bà Lê Thị Chung.

2.Bà Trần Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét sử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 141/2017/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐXX-DS ngày 06 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Số nhà 22/1, Thôn T, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền:

Ông Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số nhà 83, đường H, Tổ N, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

(Văn bản ủy quyền ngày 10 tháng 8 năm 2017)

2. Bị đơn:

Bà Liêu Thị Đ.

Địa chỉ: Số nhà 218, Thôn C, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Ông H có mặt, Bà Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ch và lời trình bày tại phiên tòa ông Nguyễn Tuấn H là đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Chiến trình bày:

Vào ngày 28 tháng 9 năm 2016, ông Nguyễn Văn Ch cho bà Liêu Thị Đ vay số tiền gốc 46.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng, thời hạn thanh toán ngày 20 tháng 12 năm 2016. Ngày 02 tháng 12 năm 2016 ông Nguyễn Văn Ch cho bà Liêu Thị Đ vay tiếp số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng, thời hạn thanh toán ngày 20 tháng 12 năm 2016.

Quá trình vay bà Liêu Thị Đ chưa thanh toán cho ông Nguyễn Văn Ch đồng tiền lãi nào mặc dù ông Nguyễn Văn Ch yêu cầu rất nhiểu lần.

Nay yêu cầu bà Liêu Thị Đ thanh toán cho ông Nguyễn Văn Ch số tiền gốc 51.000.000đ và tiền lãi của số tiền gốc 46.000.000 đồng vay ngày 28 tháng 9 năm 2016 theo mức lãi suất 0,75 %/ tháng từ ngày 28 tháng 9 năm 2016 đến ngày 20 tháng 7 năm 2018 chỉ yêu cầu 21 tháng thành tiền 7.245.000 đồng. Đối số tiền gốc 5.000.000 đồng bà Liêu Thị Đ vay ngày 02 tháng 12 năm 2016 không yêu cầu tiền lãi. Tổng cộng số tiền gốc và lãi bà Liêu Thị Đ phải trả cho ông Nguyễn Văn Ch là 58.245.000 đồng.

Chứng cứ chứng minh là: “Giấy vay tiền” ghi ngày 28 tháng 9 năm 2016 do bà Liêu Thị Đ ký nhận.

Đối với bà Liêu Thị Đ: Theo bản trình bày ý kiến ngày 22 tháng 01 năm 2018 bà Liêu Thị Đ gửi cho Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng ngày 26 tháng 01 năm thể hiện: Ngày 28 tháng 12 năm 2016 bà có mượn của ông Chiến số tiền 40.000.000 đồng và ngày 02 tháng 12 năm 2018 bà có mượn thêm của ông Ch 5.000.000 đồng. Tổng số tiền bà mượn ông Ch là 45.000.000 đồng. Nay bà đồng ý trả cho ông Ch số tiền gốc 45.000.000 đồng và số tiền lãi theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần bà Liêu Thị Đ đến Tòa án nhân dân huyện Di Linh nhưng đều vắng mặt; Tòa án cùng với chính quyền địa phương đã đến tận nhà bà Liêu Thị Đ để làm việc tuy nhiên không ghi lời khai được của bà Liêu Thị Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ch buộc bà Liêu Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn Ch số tiền gốc 51.000.000 đồng và tiền lãi 7.245.000 đồng. Bà Liêu Thị Đ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, trả lại tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Văn Ch theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên Tòa, bà Liêu Thị Đ vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt là đã tự mình từ bỏ quyền được trình bày ý kiến và đưa ra tài liệu chứng cứ để chứng minh bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án. Để đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng thời hạn luật định, cần căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện ông Nguyễn Văn Ch xác định bà Liêu Thị Đ vay số tiền gốc 51.000.000 đồng và hẹn đến tháng 12 tháng năm 2016 sẽ thanh toán nhưng chưa thanh toán. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn Ch với bà Liêu Thị Đ là tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản là đúng quy định của pháp luật.

Về thời hiệu: Theo đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo thể hiện vào ngày 28 tháng 9 năm 2016, ông Nguyễn Văn Ch có cho bà Liêu Thị Đ vay số tiền là 51.000.000 đồng và và có viết giấy vay ngày 28 tháng 9 năm 2016. Ngày 09 tháng 5 năm 2017 ông Nguyễn Văn Ch khởi kiện nộp đơn đến Tòa án nhân dân huyện Di Linh. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 184 BLTTDS xác định yêu cầu của ông Nguyễn Văn Ch còn trong thời hiệu.

Về nội dung tranh chấp: Theo lời khai của ông Nguyễn Văn Ch thể hiện vào ngày 28 tháng 9 năm 2016 ông Nguyễn Văn Ch có cho bà Liêu Thị Đ vay số tiền là 46.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng, thời hạn thanh toán cuối năm 2016, ngày 28 tháng 9 năm 2016 ông Nguyễn Văn Ch cho bà Liêu Thị Đ vay tiếp số tiền là 5.000.000 đồng thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng thời hạn thanh toán cuối năm 2016. Việc vay tiền bà Liêu Thị Đ ký nhận giấy vay tiền ngày 28 tháng 9 năm 2016.

Đối với bản trình bày ý kiến ngày 2 tháng 01 năm 2018 bà Liêu Thị Đ gửi cho Tòa án nhân dân huyện Di Linh thể hiện Ngày 28 tháng 12 năm 2016 bà có mượn của ông Ch số tiền 40.000.000 đồng và ngày 02 tháng 12 năm 2018 bà có mượn thêm của ông Ch 5.000.000 đồng. Tổng số tiền bà mượn ông Ch là 45.000.000 đồng. Nay bà đồng ý trả cho ông Ch số tiền gốc 45.000.000 đồng và số tiền lãi theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bà Liêu Thị Đ không đưa ra tài liệu chứng cứ chứng minh cho ý kiến của mình, lời trình bày của bà Liêu Thị Đ không có căn cứ xem xét. Căn cứ Điều 471 của Bộ luật Dân sự 2005 buộc bà Đ có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Ch số tiền vay gốc 51.000.000 đồng là có căn cứ.

Đối với yêu cầu tiền lãi của số tiền 46.000.000 đồng ông Nguyễn Văn Ch yêu cầu theo mức lãi suất 0,75 %/tháng từ ngày 28 tháng 9 năm 2016 đến 20 tháng 7 năm 2018 (ông Nguyễn Văn Ch chỉ yêu cầu tiền lãi 21 tháng) thành tiền là 7.245.000 đồng còn số tiền gốc 5.000.000 bà Liêu Thị Đ vay ngày 02 tháng 12 năm 2016 ông Nguyễn Văn Ch không yêu cầu tiền lãi. Căn cứ vào khoản 4 Điều 474, khoản 2 Điều 476 của Bộ luật Dân sự 2005 là đúng quy định cần buộc bà Liêu Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn Ch số tiền lãi 7.245.000 đồng là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên khẳng định ông Nguyễn Văn Ch khởi kiện là có căn cứ, bà Liêu Thị Đ đã vi phạm nghĩa vụ, có lỗi chậm thanh toán, cần áp dụng Điều 471, Điều 474, Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 buộc bà Liêu Thị Đ có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Ch số tiền gốc là 51.000.000 đồng, số tiền lãi là 7.245.000 đồng, tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 58.245.000 đồng là có căn cứ.

Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 144; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Yêu cầu của ông Ch được chấp nhận nên bà Liêu Thị Đ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm của số tiền: 58.245.000 đồng x 5% = 2.912.000 đồng là phù hợp.

Trả lại tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Văn Ch 2.678.000 đồng theo biên lai thu số AA/2016/0003104 ngày 07 tháng 11 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144, Điều 147, Bộ luật tố tụng Dân sự, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 471, Điều 474, của Bộ luật Dân sự 2005; Điều 357 của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ch. Buộc bà Liêu Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn Ch số tiền gốc 51.000.000 đồng (năm mươi mốt triệu đồng) và tiền lãi 7.245.000 đồng (Bảy triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng). Tổng cộng tiền gốc và lãi là 58.245.000 đồng ( Năm mươi tám triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí:

Bà Liêu Thị Đ chịu 2.912.000 đồng ( Hai triệu chín trăm mười hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn Ch nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.687.000đồng ( Hai triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng ) theo biên lai thu số AA/2016/0003104 ngày ngày 07 tháng 11 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo qui định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ