- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn Đ tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 18/2017/HSST Ngày: 17/8/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Bé - Cán bộ nghỉ hưu.
2. Ông Hoàng Đình Cầu - Cán bộ nghỉ hưu.
Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Tăng Thị Thủy - cán bộ toà án nhân dân huyện Vân Đồn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Vũ Mạnh Cương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2017/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2017, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lƣu Văn Đ - sinh năm 1975, tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT, chỗ ở: Thôn 8, xã H, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Văn H (đã chết) và bà: Châu Thị T (đã chết); Có vợ là: Phạm Thị T; Có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị bắt ngày 03/7/2017 đến ngày 01/8/2017 thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
NHẬN THẤY
Bị cáo Lưu Văn Đ bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn truy tố về hành vi phạm tội như sau: Hồi 13 giờ 20 phút ngày 03/7/2017, tại khu 2, thị trấn C, huyện Vân Đồn, tổ công tác Công an huyện Vân Đồn phát hiện, bắt quả tang Lưu Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ ở dưới đất, nơi Đ đứng 01 gói giấy (loại giấy vệ sinh) bên trong có 03 gói giấy (loại giấy dòng kẻ) có chứa chất bột màu trắng đục.
Quá trình điều tra, Lưu Văn Đ khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 03/7/2017, Đ và đối tượng tên là T (chưa xác định được lai lịch và địa chỉ) rủ nhau chung tiền mua ma túy để sử dụng. Đ góp 100.000 đồng đưa cho Trường, sau đó Trường điều khiển xe môt ô của Trường chở Đ đến khu vực nhà văn hóa khu 3, thị trấn C gặp một người đàn ông không quen biết nhờ mua hộ ma túy, người đàn ông này cầm tiền bỏ đi. Một lúc sau, quay lại đưa cho T 01 gói ma túy, Trường cầm rồi đưa lại cho Đ. Mua được ma túy, T điều khiển xe mô tô chở Đ đi tìm chỗ để sử dụng. Trên đường đi đến khu 2, thị trấn C thì bị Công an kiểm tra, Đ ném gói ma túy xuống đất, Trường điều khiển xe bỏ chạy. Mẫu vật thu giữ của Đ gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine; Tổng trọng lượng 0,19 gam.
Tại bản cáo trạng số 19/KSĐT-HS ngày 20 tháng 7 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lưu Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khoá 14; Khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt Lưu Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo,
XÉT THẤY
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn Đ khai nhận: Bản thân Lưu Văn Đ là người nghiện và sử dụng ma túy loại Heroine. Sáng ngày 03/7/2017 Đ đi cùng một người tên T, nhà ở khu vực Lò Vôi (theo lời T nói với Đ) bằng xe mô tô của T đến khu nhà văn hóa khu 3 thị trấn C, huyện Vân Đồn để tìm mua ma túy sử dụng. Đ góp 100.000đồng đưa cho T để T tìm mua ma túy, T góp bao nhiêu tiền thì Đ không rõ, sau đó Đ nhìn thấy T mua được ma túy của người đàn ông lạ mặt ở khu vực nhà văn hóa khu 3 thị trấn C, số ma túy đó được gói trong mảnh giấy vệ sinh, sau đó T đưa gói ma túy cho Đ cầm, T điều khiển xe mô tô chở Đ đi tìm nơi sử dụng, đi đến khu 2 thị trấn C thì bị Công an kiểm tra, Đ xuống xe ném gói ma túy xuống đất, T điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Công an thu giữ gói ma túy của Đ ném xuống đất và bắt giữ Đ đưa về trụ sở Công an huyện.
Những người làm chứng, anh Chu Văn M, anh Bùi Văn C đều có lời khai giống nhau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 03/7/2017, hai anh đi bộ ở khu 2, thị trấn C thấy Công an kiểm tra hai người đi xe mô tô, người ngồi sau xuống xe và ném ra một cuộn giấy màu trắng xuống đất, người điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Khi Công an hỏi người xuống xe nói tên Lưu Văn Đ, sau đó Công an thu giữ vật ném xuống đất của Đ và lập biên bản bắt giữ người tên Đ đưa về trụ sở Công an làm việc; Chị Nguyễn Thị Hương khai: Lưu Văn Đ là em họ của chồng tôi, khoảng 9 giờ 30 phút ngày 03/7/2017, Đ đến nhà tôi hỏi chồng tôi là Phạm Văn C xin 100.000đồng, nói xin trả nợ, tôi cho Đ 100.000đồng, sau đó Đ đi đâu làm gì tôi không biết.
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 03/7/2017 của Công an huyện Vân Đồn, thể hiện việc bắt giữ Lưu Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết luận giám định số 441/GĐMT ngày 05/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật thu giữ của Lưu Văn Đ gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine; Tổng trọng lượng 0,19 gam.
Từ những chứng cứ trên đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 20 phút ngày 03/7/2017, tại khu 2, thị trấn C, huyện Vân Đồn, bị cáo Lưu Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,19 ( không phảy mười chín gam) Heroine.
Hành vi tàng trữ trái phép Heroine của bị cáo Lưu Văn Đ đã cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:“ Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Văn Đ đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện với đặc tính gây nghiện rất cao, làm cho người sử dụng hoàn toàn lệ thuộc vào nó, từ đó gây ra nhiều hiểm họa cho xã hội. Nạn nghiện ma túy sẽ hủy hoại sức khỏe và nhân cách con người, làm thiệt hại kinh tế của bản thân và gia đình cũng như kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo Đ là đối tượng nghiện ma tuý, mua ma tuý cất giấu trong người để sử dụng, bị cáo biết rõ tác hại và sự nghiêm cấm của nhà nước về ma tuý nhưng nhằm thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp vi phạm pháp luật đã tiếp tay cho đối tượng bán trái phép chất ma tuý, do vậy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian cai nghiện và đồng thời cải tạo bị cáo thành con người có ích cho xã hội.
Xét nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xét nguyên tắc có lợi cho bị cáo: Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” có mức hình phạt nặng hơn mức hình phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a, ...
c, Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;...”. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo theo nguyên tắc có lợi.
* Về vật chứng của vụ án: trọng lượng 0,19 gam Heroine, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh đã giám định hết một phần, còn lại 0,13 gam Heroine hoàn lại trong niêm phong số 441/GĐMT ngày 05/7/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, xét thấy đây là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ.
* Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Lưu Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng tên T, theo bị cáo Đ khai đã chung tiền và dùng xe mô tô chở bị cáo Đ đi mua ma túy, khi bị cáo Đ bị bắt giữ, T bỏ trốn nên cơ quan điều tra Công an huyện Vân Đồn đã ra quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau là phù hợp pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khoá 14; Khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Xử phạt: Lưu Văn Đ 18 ( Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi những ngày đã tạm giữ, tạm giam (từ ngày 03/7/2017 đến ngày 01/8/2017).
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine hoàn lại trong niêm phong số 441/GĐMT ngày 05/7/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận số 20/BB-CCTHADS ngày 24/7/2017 giữa Công an huyện Vân Đồn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn).
Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Lưu Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/8/2017). N¬i nhËn:
| - Bị cáo; - VKSND huyÖn V©n §ån; - C«ng an huyÖn V©n §ån; - TAND tØnh Qu¶ng Ninh; - CCTHADS huyÖn V©n §ån; - Lưu hå s¬ vô ¸n. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dƣơng Thị Nga |