- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn V ly hôn chị Hồ Thu H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy đị…
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2004/HNGĐ Ngày: 22/03/2024 Về việc: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Trung
Bà Nguyễn Thị Mai Linh
- Thư ký toà án ghi biên bản phiên tòa: Bùi Thị Thu Hằng, thư ký tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 03 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 387/2023/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023, về việc: Ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/03/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn V, Sinh năm 1993
Địa chỉ: SN A, H, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Chị Hồ Thu H, Sinh năm 1993
Địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình
(Các đương sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Văn V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn V và chị Hồ Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thất Hùng, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương vào ngày 26/12/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống bình thường, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, thiếu sự quan tâm đến nhau. Dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 đến nay. Nay anh V xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị tòa án giải quyết ly hôn với chị H.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về án phí ly hôn: Anh V tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Sau khi thụ lý đơn của anh V, Tòa án đã tống đạt và tiến hành báo gọi triệu tập đương sự nhưng chị H không có mặt để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành xác minh như sau:
Bà Nguyễn Thị Ánh là mẹ đẻ của chị Hồ Thu H cung cấp như sau: Anh Nguyễn Văn V và chị Hồ Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thất Hùng, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương vào ngày 26/12/2017. Sau khi kết hôn các con chung sống với bà tại tổ 7, phường Tân Hòa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Một thời gian sau, các con xin phép bà đi làm ăn. Trong quá trình chung sống, các con có mâu thuẫn nhiều lần. Bà Ánh có hỏi con gái lý do thì chị H giải thích do bất đồng quan điểm sống và một phần vì không có con chung. Hiện nay, chị H đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà và vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Chị H đã biết được việc ly hôn nhưng do bận việc nên không sắp xếp thời gian về được. Bà Ánh không có quan điểm về việc ly hôn giữa anh V và chị H, tùy thuộc vào quyết định của các con và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Bà Hoàng Thị Gấm là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn V cung cấp như sau: Anh Nguyễn Văn V và chị Hồ Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thất Hùng, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương vào ngày 26/12/2017. Bà Gấm không biết về tình trạng cuộc sống hôn nhân giữa anh V và chị H. Bà chỉ biết rằng, từ khoảng tháng 3 năm 2023 anh V đã bỏ về nhà bà Gấm tại Hải Dương sinh sống, vợ chồng ly thân. Bà Gấm có hỏi con trai là anh V lý do và được giải thích là do vợ chồng không hợp, sống ly thân và từ đó anh V không sinh sống tại Hòa Bình. Nay bà Gấm không có ý kiến, quan điểm về việc ly hôn giữa anh V và chị H, tùy thuộc vào quyết định của hai bên và đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Văn Vi, tổ trưởng tổ 7, phường Tân Hòa, thành phố Hòa Bình cung cấp: Chị Hồ Thị H là công dân có hộ khẩu thường trú và cư trú tại tổ 7, phường Tân Hòa. Năm 2017 chị H có kết hôn với anh V, quê ở Hải Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng anh V và chị H có về sinh sống tại thành phố Hòa Bình một thời gian. Tuy nhiên, gần đây vợ chồng đã đi làm ăn xa. Hiện nay, cả hai không còn cư trú tại địa phương. Chị H vẫn có hộ khẩu tại tổ 7, phường Tân Hòa, Thành phố Hòa Bình. Tuy nhiên, hiện nay chị H làm việc gì, địa chỉ cụ thể ở đâu thì ông không nắm được. Việc anh Nguyễn Văn V làm thủ tục xin ly hôn tại Tòa án Thành phố Hòa Bình. Tôi đã nhận và hỗ trợ tống đạt các văn bản, giấy tờ của Tòa án gửi cho chị Hồ Thu H. Tuy nhiên, chị H không có mặt tại địa phương, đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về. Theo ông Vi, chị H và anh V không có con chung và tài sản chung gì.
Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Sau khi đã điều tra xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Do chị Hồ Thu H vắng mặt, Tòa án quyết định hoãn phiên tòa và tiến hành tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Đến nay, chị H vẫn vắng mặt không có lý do, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Anh V có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân căn cứ thực trạng hôn nhân giữa vợ chồng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh V, xử cho anh Nguyễn Văn V được ly hôn với chị Hồ Thu H.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, công nợ chung: anh V khai không có, không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: căn cứ quy định Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chấp nhận anh V tự nguyện nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân gia đình, cụ thể là về việc ly hôn. Đồng thời, bị đơn chị Hồ Thu H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 7, phường Tân Hòa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành gửi các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Sau khi đã điều tra xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án :
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn V và chị Hồ Thu H là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn. Anh V cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Vợ chồng ly thân không còn sống chung. Nay, anh V xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
Hội đồng xét xử xét thực trạng cuộc sống chung vợ chồng anh V và chị H, qua kết quả xác minh cho thấy cuộc sống chung tồn tại mâu thuẫn, hai vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không có con chung. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Từ nhận định trên thấy rằng, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh V.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh V khẳng định vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn V tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, sự tự nguyện phù hợp pháp luật, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn V ly hôn chị Hồ Thu H.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn V tự nguyện nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo Biên lai số 0000169 ngày 13/12/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
3. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn V và Chị Hồ Thu H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận - TAND tỉnh HB; - VKSND thành phố HB; - VKSND tỉnh HB; - Chi cục THADS thành phố HB; - UBND p. Tân Hòa, TPHB; - Đương sự; - Lưu HS. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Lan |