- Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tiến Đ.
- Căn cứ chính? Điều 119 Luật Tư pháp người; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 179/2026/HS-PT Ngày: 25/5/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
ông Trần Đức Kiên
Các thẩm phán:
ông Phạm Tồn
ông Đặng Kim Nhân
- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Ngọc Gia Linh, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Trần Viết Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2026/TLPT-HS ngày 26 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Trần Tiến Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2026/HS-ST-CTN ngày 12/02/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Tiến Đ, sinh ngày 01/11/2007 tại Đà Nẵng; số định danh cá nhân: 048207002999; nơi thường trú: thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (nay là phường H, thành phố Đà Nẵng); nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang T và bà Trần Thị Thanh T1; tiền án: không.
Tiền sự: tại Quyết định số 231/QĐ-XPHC ngày 24/7/2024, Công an huyện H, thành phố Đà Nẵng phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Mang theo hung khí nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng – cố ý gây thương tích cho người khác”.
Bị cáo hiện đang tại ngoại; có mặt.
Ngoài ra còn có các bị cáo khác và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nhưng không có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 13/11/2024, Nguyễn Quang H, Nguyễn Tấn T2, Nguyễn Phan Gia P, Huy P1, H1 và một số thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đến Cửa hàng H4, tại lô A đường B - Đà Nẵng uống nước ở tầng 2. Đến 02 giờ, H và T2 lấy xe mô tô đi dạo trên đường B; khi đi qua Công viên A thì H và T2 bị 01 nhóm thanh niên nghi là nhóm “Hòa Xuân” đuổi đánh, nên quay về H kể lại với nhóm bạn đang ngồi ở H.
Cùng thời điểm này, nhóm thanh niên gồm: Nguyễn Trọng C, Phùng Văn P2, Nguyễn Văn V, Phạm Minh T3, Ngô Tấn K, Trần Tiến Đ và Huỳnh Nhật H2 cũng đến Cửa hàng Hee Mart lên tầng 2 uống nước thì H nhận ra là nhóm “Hòa Xuân”, nghi nhóm này mới đuổi đánh mình tại Công viên A và H còn nghe một số người trong nhóm “Hòa Xuân” có lời lẽ thách thức nhóm “Hòa C1” là nhóm H đang chơi cùng. Biết nhóm “Hòa Cường” đang chơi tại cửa hàng H4 ở số B đường B - Đà Nẵng nên H nói Nguyễn Phan Gia P và Nguyễn Tấn T2 đi nhờ nhóm “Hoà Cường” qua đánh lại nhóm “Hòa Xuân” để dằn mặt thì T2 điều khiển xe máy chở P đến gặp nhóm “Hoà Cường”. Khi đến nơi, T2 đứng ngoài xe, P đi vào kể cho nhóm “Hoà Cường” gồm: Trần Nguyễn Minh H3, Nguyễn Anh T4, Âu Chí T5, Võ Văn Thanh Đ1, Bùi Vũ P3, Hồ Quốc P4 và Nguyễn An B nghe lại sự việc thì Bùi Vũ P3 nói cả nhóm cùng đi qua Hee M đánh nhóm “Hòa Xuân” thì tất cả đồng ý.
Khi nhóm “Hòa C1” đến Cửa hàng H4 thì Nguyễn Phan Gia P chạy lên tầng 2 thông báo cho Nguyễn Quang H biết rồi P ngồi lại với nhóm ở tầng 2, còn T2 đứng dưới vỉa hè Cửa hàng cùng nhóm “Hoà Cường”. Được P báo, H từ tầng 2 đi xuống gặp nhóm “Hoà Cường” kể lại sự việc bị nhóm của “Hòa Xuân” khiêu khích. Sau khi nghe H kể lại thì các đối tượng thuộc nhóm “Hoà Cường” bực tức và liền cùng H đi vào trong Cửa hàng H4 để đánh nhóm “Hòa Xuân”. Thấy Nguyễn Trọng C và Phùng Văn P2 đang đứng trước quầy thu ngân ở tầng 1 thì H chỉ vào Cử nói “Hắn đó”; C thấy vậy cũng nói lại với thái độ thách thức “Ta đây, răng”; ngay lập tức, Trần Nguyễn Minh H3 xông vào dùng tay, chân đánh C ngã vào quầy thu ngân làm gãy kệ hàng, đổ hàng hoá trên kệ xuống; C cũng dùng tay đánh lại; ngay lập tức những người trong nhóm của H3 xông vào dùng tay, chân đánh C, còn Võ Văn Thanh Đ1 và Hồ Quốc P4 xông vào dùng tay chân đánh P2. Nguyễn Quang H ôm Cử vật ngã xuống sàn cửa hàng; H3 cùng với H, Bùi Vũ P3, Nguyễn Anh T4 tiếp tục dùng tay, chân đánh C, còn B thì cầm thùng đựng đá bằng nhựa ném vào người C, Bùi Vũ P3 nhặt thanh gỗ rơi ra từ kệ hàng đánh một cái vào đầu của C rồi vứt cây gỗ xuống sàn nhà, H thấy vậy nhặt cây gỗ đó lên tiếp tục đánh một cái trúng vào đầu của C.
Lúc này, biết C và P2 bị đánh ở dưới tầng 1 nên Nguyễn Văn V, Phạm Minh T3, Ngô Tấn K, Trần Tiến Đ và Huỳnh Nhật H2 từ tầng 2 chạy xuống đánh giải vây cho C - P2. Phạm Minh T3 cầm ghế ném về phía nhóm của H2; Nguyễn Văn V cầm cây cơ bida đánh mạnh 01 cái vào phía sau đầu (phần gáy) của Trần Nguyễn Minh H3 khiến cây cơ bị gãy thành 2 đoạn, H3 bị choáng, ngã ngửa nằm dưới sàn, nhóm của Minh Hoàng L ra ngoài thì N H3 cầm 01 ghế sắt đuổi theo ném về nhóm Minh H3 ở phía trước cửa hàng. Khi Minh H3 tỉnh, ngồi dậy thì Minh T3 tiếp tục cầm cơ bida đánh vào lưng của Minh H3, V tiếp tục nhặt 02 thanh gỗ đánh liên tục 05 cái vào đầu của Minh H3, C dùng tay, chân đánh liên tiếp vào người Minh H3, Tiến Đ cũng xông vào để đánh nhưng Minh H3 vùng chạy được ra ngoài.
Lúc này, còn lại Đ1 bị nhóm C vây đánh trong Cửa hàng; Minh T3 cầm phần cây cơ bida bị gãy đánh vào đầu, người Đ1, những người khác dùng tay chân đấm đá vào người Đ1. Thấy vậy, nhóm của Minh H3 tiếp tục xông vào bên trong thì V giật cây cơ bida K đang cầm hù dọa không cho nhóm Minh H3 xông vào. Minh H3 nhặt thùng đựng đá bằng nhựa đang nằm trên sàn của cửa hàng ném về phía nhóm của C, còn Anh T4 và H mỗi người cầm 01 cái ghế ném theo, Quốc P4 cầm 01 cây búa đập đá để hù dọa. Ngay sau đó, P2 cầm 01 cây kéo xông ra đâm vào người H nhưng H đỡ được và khiến P2 làm rơi kéo xuống sàn; H nhặt cây kéo này cầm trên tay. Minh H3 giật búa đập đá trong tay Quốc P4 cùng với H xông vào trong thì bị P2 và Nhật H2 dùng ghế ném trúng nên Minh H3 ném cây búa về phía nhóm C. H một tay cầm kéo, một tay cầm ghế xông vào trong thì nhóm của C bỏ chạy lên tầng 2. Sau đó, Quốc P4 tìm lấy thêm 01 cây kéo ở trong quầy thu ngân thì Minh H3 giật lấy cây kéo này. Nhóm của Minh H3 đứng bên ngoài, nhóm của C đứng bên trong tiếp tục thách thức nên Minh H3 cũng đứng thách thức lại. Nguyễn An B cầm một con dao dài khoảng 25cm lấy từ trong áo khoác ra đe dọa; Đ1 nhặt 01 cục gạch từ bãi đất trống bên cạnh cửa hàng xông vào ném về phía nhóm của C, rồi cả nhóm của Minh H3 cùng chạy theo sau Đ1 xông vào đuổi nhóm “Hòa X” chạy lên tầng 2.
Khi nhóm “Hòa X” chạy lên tầng 2, còn lại Nguyễn Trọng C thì chạy về phía trong góc của tầng 1. Lúc này, Hồ Quốc P4 nhặt cục gạch (cục gạch do Đ1 ném), Nguyễn Quang H cầm cây kéo đứng ngay chân cầu thang dọa khiến nhóm “Hòa Xuân” của C ở tầng 2 không dám chạy xuống; Trần Nguyễn Minh H3 cầm kéo xông đến chỗ C, C quay lưng bỏ chạy thì bị Minh H3 dùng kéo đâm một nhát trúng vào lưng C và tiếp tục cầm kéo đâm ngang trúng vào người C khiến C ngã xuống sàn rồi Minh H3 chuyển tư thế cầm kéo đâm nhiều nhát liên tục từ trên xuống vào người Cử, đồng thời Đại cũng cầm 01 cán chổi bằng kim loại (chổi lau nhà) đánh nhiều cái vào đầu của C; C đưa tay giữ cây kéo, dùng chân đạp H3 ra nhưng H3 vẫn cầm kéo đâm liên tục vào người C. Sau khi thấy C chảy nhiều máu và được Bùi Vũ P3 kéo ra thì Minh H3 mới dừng lại. Sau đó, Minh H3 đi ra phía trước cửa hàng vứt cây kéo ra đường B rồi cùng cả nhóm bỏ đi. Cử được nhóm “Hòa Xuân” đưa đến Bệnh viện T6 để điều trị vết thương.
Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế thành phố Đ xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Trọng C tại thời điểm giám định là 24%.
Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 19/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 5.621.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2026/HS-ST-CTN ngày 12/2/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng quyết định: tuyên bố bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên;
Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ 16 (mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo khác, quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 27/02/2026, bị cáo Trần Tiến Đ kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Tiến Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trần Tiến Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: ngày 27/2/2026, bị cáo Trần Tiến Đ kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về tội danh: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Tiến Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định. Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 02 giờ ngày 13/11/2024, tại cửa hàng H4, địa chỉ lô A đường B, thành phố Đà Nẵng, nhóm thanh niên gồm: Trần Nguyễn Minh H3, Võ Văn Thanh Đ1, Bùi Vũ P3, Nguyễn Anh T4, Hồ Quốc P4, Nguyễn An B, Nguyễn Quang H đánh nhau với nhóm thanh niên gồm: Nguyễn Trọng C, Phùng Văn P2, Nguyễn Văn V, Phạm Minh T3, Trần Tiến Đ, Huỳnh Nhật H2 và Ngô Tấn K. Các đối tượng dùng hung khí và đồ đạc, tài sản của cửa hàng H4 để đánh nhau gây náo loạn tại khu vực trong và trước cửa hàng H4. Hậu quả việc đánh nhau giữa hai bên làm Nguyễn Trọng C bị thương tích 24% và hư hại về tài sản của cửa hàng Hee Mart trị giá 5.621.000 đồng.
Với hành vi và hậu quả trên, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng kết tội Trần Tiến Đ “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng:
Hành vi phạm tội của Trần Tiến Đ là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an ninh, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng. Bản thân Trần Tiến Đ có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Mang theo hung khí nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng - cố ý gây thương tích cho người khác”. Do đó, để giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa chung, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi cũng như hậu quả mà bị cáo đã gây ra.
Trong vụ án này, các bị cáo đồng phạm giản đơn, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo mới 17 tuổi 12 ngày; sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội tại khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên khi lượng hình đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật. Mức án 16 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo phân hóa vai trò tội phạm và tinh thần giáo dục của pháp luật đối với người chưa thành niên.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới có ý nghĩa để áp dụng nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trần Tiến Đ như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Tiến Đ phải chịu theo quy định.
[5]. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tiến Đ. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2026/HS-ST-CTN ngày 12/02/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về phần hình phạt đối với bị cáo.
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên;
Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Tiến Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao - Vụ GĐKT I; - Viện CT&KSXXPT tại Đà Nẵng; - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; - Cơ quan CSĐT, Phòng HSNV-CA thành phố Đà Nẵng; - Cơ quan CSTHAHS-CA thành phố Đà Nẵng; - Bị cáo (theo địa chỉ); - Lưu: HSVA; P.HCTP; LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đức Kiên |