- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con - Trần Thị L - Phạm Văn Bé H"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 179/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31 – 12 – 2024 V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Dài.
2. Ông Trần Quang Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trà My - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13, 31 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 333/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 128/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn Bé H, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Chị Trần Thị L vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt; anh Phạm Văn Bé H vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 04/10/2024, biên bản lấy lời khai, biên bản phiên họp – hòa giải, nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Phạm Văn Bé H tự tìm hiểu được khoảng 01 năm, sau đó được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2005, có đăng ký kết hôn vào ngày 19/4/2010 tại Ủy ban nhân dân xã T. Sau khi cưới thì chị L và anh B H về chung tại nhà riêng của anh B Hai ấp T, xã T. Thời gian đầu vợ chồng sống chung có hạnh phúc. Đến đầu năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, do anh B H thường xuyên đi nhậu về đánh chị L, đuổi chị L và hai con ra khỏi nhà. Lý do đuổi đi là anh Bé H nói không cần sống chung với mẹ con chị L nữa; chứ anh Bé H không nói rõ nguyên nhân cụ thể. Đến khoảng 6/2023, anh B H tiếp tục đuổi nên chị L và hai con về nhà cha mẹ chị L tại ấp T, xã T sinh sống và sống ly thân với anh Bé H đến nay.Trong thời gian ly thân thì anh chị không hàn gắn được, do không có ai có ý định muốn hàn gắn. Nay chị L không còn tình cảm với anh Bé H nên chị L yêu cầu ly hôn với anh Bé H.
Về con chung: Chị L và anh B H có con chung tên Phạm Văn L1, sinh ngày 02/9/2009, Phạm Thị Ngọc M, sinh ngày 11/8/2014. Khi ly hôn chị L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi hai con và chị L không có yêu cầu anh Bé H cấp dư ng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Phạm Văn Bé H: Anh Bé H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Bé H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa hòa giải 02 lần, thông báo về việc yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh Bé H vắng mặt không có lý do, không cung cấp văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị L, cũng không tham dự phiên họp – hòa giải 02 lần và phiên tòa 02 lần nên Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh B Hai đối với yêu cầu khởi kiện của chị L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị L. Về hôn nhân: Chị Trần Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn Bé H. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Văn L1, sinh ngày 02/9/2009, Phạm Thị Ngọc M, sinh ngày 11/8/2014 cho chị L được quyền trực tiếp nuôi, anh B H không phải cấp dư ng cho con do chị L không có yêu cầu anh Bé H cấp dư ng cho con. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:
- Trích lục kết hôn; Giấy khai sinh, trích lục khai sinh con chung tên Phạm Văn L1, Phạm Thị Ngọc M Bản sao ;
- Bản tự khai ngày 04/11/2024 của con chung tên Phạm Văn L1, Phạm Thị Ngọc M Bản chính ;
- Biên bản lấy lời khai chị Trần Thị L ngày 04/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình Bản chính ;
- Văn bản v/v xác minh nơi cư trú đối với anh Phạm Văn Bé H của Công an xã T ngày 15/11/2024 Bản chính ;
- Đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 25/11/2024 của chị Trần Thị L Bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Bị đơn anh Phạm Văn Bé H cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn chị Trần Thị L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm Văn Bé H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có cung cấp ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh B Hai theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị L yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn Bé H; anh Bé H không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu của chị L.
Hôn nhân giữa anh Bé H và chị L được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị cư ng ép hoặc lừa dối; anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên là hôn nhân hợp pháp. Chị L xác định trong quá trình chung đến đầu năm 2023 thì anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh B H thường xuyên đi nhậu và về nhà đánh chị L, đuổi chị L và hai con chung ra khỏi nhà. Đến tháng 6/2023, anh B H tiếp tục đuổi nên chị L mang hai con về nhà cha mẹ ruột chị L tại ấp T, xã T sinh sống và ly thân với anh B H đến nay mà không hàn gắn được. Nay chị L không còn tình cảm với anh B H nên yêu cầu ly hôn với anh Bé H.
Khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.
Từ trình bày của chị L cho thấy chị L và anh Bé H đã không thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng về việc thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị L và anh Bé H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Do đó, chị Trần Thị L yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn Bé H là phù hợp theo quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được chấp nhận.
Về con chung:
Chị L xác định chị L và anh Bé H có hai con chung tên Phạm Văn L1, sinh ngày 02/9/2009, Phạm Thị Ngọc M, sinh ngày 11/8/2014. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được quyền nuôi dư ng cháu L1, cháu M và chị L không có yêu cầu anh Bé H cấp dư ng nuôi con. nh Bé H không cung cấp cho Tòa án ý kiến, yêu cầu đối với con chung.
Xét thấy, chị L đang trực tiếp nuôi dư ng cháu L1, cháu M từ khi chị L và anh B Hai ly thân đến nay, chị L đã làm tròn nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dư ng cháu L1, cháu M và cho cháu M đi học. Mặt khác, cháu L1, cháu M đã trên 07 tuổi, có văn bản ghi nguyện vọng muốn được tiếp tục sống chung với chị L.
Khoản 1, 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
Do đó, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu L1, cháu M như đã phân tích, đồng thời xem xét nguyện vọng của cháu L1, cháu M, xét thấy không cần thiết làm thay đổi hoàn cảnh sống ổn định của cháu L1, cháu M, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trực tiếp nuôi cháu L1, cháu M của chị L, là phù hợp theo quy định của pháp luật; anh B H không phải cấp dư ng cho cháu L1, cháu M do chị L không có yêu cầu anh Bé H cấp dư ng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Phạm Văn Bé H không có ý kiến, yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; anh Phạm Văn Bé H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L.
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn Bé H.
2. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Văn L1, sinh ngày 02/9/2009, Phạm Thị Ngọc M, sinh ngày 11/8/2014 cho chị Trần Thị L được quyền trực tiếp nuôi. nh Phạm Văn Bé H không phải cấp dư ng cho cháu Phạm Thị Ngọc M do chị Trần Thị L không có yêu cầu anh Phạm Văn Bé H cấp dư ng cho con.
Sau khi ly hôn, anh Phạm Văn Bé H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh Phạm Văn Bé H không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dư ng, giáo dục con thì chị Trần Thị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh Phạm Văn Bé H.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị L và anh Phạm Văn Bé H không có yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Trần Thị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng Ba trăm nghìn đồng , nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng Ba trăm nghìn đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0006834 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình. Như vậy, chị L đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Phạm Văn Bé H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thanh Bình; - CC TH DS huyện Thanh Bình; - T ND tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã Tân Huề Đăng ký kết hôn số 58, ngày 19/4/2010 ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Thùy Trang |