- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị Kết Luận - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Thị Kết L.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 179/2023/HS-ST Ngày: 21/6/2023 |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Liễu
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lý,
Bà Võ Thị Bời.
Thư ký phiên tòa: Ông Đào Minh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 181/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Võ Thị Kết L, sinh năm 1983 tại Khánh H; Nơi cư trú: Thôn Ngọc H 1, xã Vĩnh N, thành phố Nha T, Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L (chết); Con bà Phạm Thị B, sinh năm 1959; Có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã của Cơ quan điều tra, hiện bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt.
* Bị hại: Nguyễn Phi T, sinh năm 2000
Địa chỉ: 149KB Sơn P, phường Vĩnh T, Nha T.
Vắng mặt.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Quang K, sinh năm 1974
Địa chỉ: Thôn 3, xã Diên P, huyện Diên K, Khánh H.
Vắng mặt.
2. Trần Ngọc Thuận T, sinh năm 1992
Địa chỉ: 90 Lê Thành P, phường 8, thành phố Tuy H, tỉnh Phú Y.
Vắng mặt.
* Người làm chứng:
1. Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 17/11/2004
Địa chỉ: 149KB Sơn Ph, phường Vĩnh T, Nha T.
Vắng mặt.
2. Đào Công M, sinh năm 1989
Địa chỉ: 83/22/38 Trần P, phường Vĩnh N, Nha T.
Vắng mặt.
3. Phạm Thị B, sinh năm 1959
Địa chỉ: Thôn Mỹ L, xã Diên L, huyện Diên K, Khánh H.
Vắng mặt.
4. Huỳnh Tấn H, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn Xuân N, xã Vĩnh N, Nha T.
Vắng mặt.
5. Huỳnh C, sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn Xuân N, xã Vĩnh N, Nha T.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 01/01/2020, Võ Thị Kết L đang đi bộ trên đường Trần Nhật Duật, phường Phước H, thành phố Nha T gặp anh Nguyễn Phi T đang điều khiển xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đen đỏ, biển kiểm soát: 79D1-465.20, L gọi anh T dừng lại và nhờ chở đi tìm người quen, anh T đồng ý. Anh T điều khiển xe máy chở L đến khu đô thị Vĩnh Điềm T, xã Vĩnh H, thành phố Nha Tr nhưng sau đó Luận không tìm được người quen. Lúc này, anh Tài chở L đi về nhà của mình tại địa chỉ số: 149KB Sơn Phước, phường Vĩnh T, thành phố Nha T để nghỉ ngơi. Khi cả hai đi về đến nhà, anh Tài đi lên phòng trên tầng 2 nằm ngủ, còn L ngồi ở dưới phòng khách. Luận gặp em gái của anh Tài là Nguyễn Thị Mỹ Huyền, H hỏi L “chị là bạn anh Tài à” thì L gật đầu, sau đó H đi làm không khóa cổng mà chỉ khép lại. L quan sát không thấy có người trong nhà nên đã nảy sinh ý định tìm tài sản để trộm cắp, L đi lên phòng của anh T lấy trộm 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy Note 5 đang sạc pin, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Neos đang để cạnh đầu giường anh T đang nằm ngủ.
Sau đó, L tiếp tục đi xuống tầng dưới lục trong ngăn tủ lấy trộm 01 vòng trầm đeo tay và 01 thân vape (thuốc lá điện tử), rồi cất giấu tất cả tài sản trộm cắp được vào trong túi xách của L. L lấy khóa xe máy đang treo trên cầu thang, mở khóa xe, rồi khởi động máy điều khiển xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đen đỏ, biển kiểm soát: 79D1-465.20 tẩu thoát. Khi L điều khiển xe máy đi đến khu vực khu đô thị Mỹ G, xã Vĩnh T, thành phố Nha T để tìm nơi tiêu thụ tài sản trộm cắp thì bị bảo vệ khu đô thị phát hiện nghi vấn nên báo Công an xã Vĩnh T, thành phố Nha T đến yêu cầu L về trụ sở để làm việc và thu giữ cùng tang vật.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 293/KL-HĐĐGTS ngày 29/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát: 79D1-465.20 có giá trị là: 32.760.000 đồng (ba mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 25/HĐĐG ngày 20/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 5 có giá trị là: 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng).
- Đối với 01 vòng trầm đeo tay; 01 đồng hồ đeo tay Neos và 01 thân thuốc lá điện tử không có thông tin về sản phẩm, kích thước, kiểu loại, nguồn gốc xuất xứ nên không có cơ sở để định giá.
Tại bản cáo trạng số 156/CT-VKSNT ngày 28/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố Võ Thị Kết L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã giữ nguyên kết luận truy tố bị cáo Võ Thị Kết L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
Bị cáo Võ Thị Kết L khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người liên quan và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Theo cáo trạng truy tố cho thấy, tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 01/01/2020, tại nhà số 149KB Sơn P, phường Vĩnh T, thành phố Nha T, tỉnh Khánh H, Võ Thị Kết L có hành vi lén lút trộm cắp một số tài sản khi không có người trông coi, gồm: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đen đỏ, biển kiểm soát: 79D1-465.20 có giá trị là: 32.760.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 5 có giá trị là: 1.900.000 đồng; 01 vòng trầm đeo tay (không rõ nhãn hiệu), 01 đồng hồ đeo tay Neos và 01 thân thuốc lá điện tử vape của anh Nguyễn Phi Tài. Tổng giá trị tài sản mà Võ Thị Kết L đã trộm cắp là 34.660.000 đồng (Ba mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do coi thường pháp luật, muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo bỏ tốn và bị bắt theo lệnh truy nã, đã gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm khắc.
Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt cũng đảm bảo mục đích của hình phạt, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và đủ tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với 01 vòng trầm đeo tay; 01 đồng hồ đeo tay Neos và 01 thân thuốc lá điện tự không có thông tin về sản phẩm, kích thước, kiểu loại, nguồn gốc xuất xứ, không có cơ sở để định giá nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên cần tách ra giải quyết riêng khi có yêu cầu.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Thị Kết L.
[2] Xử phạt: Bị cáo Võ Thị Kết L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên cần tách ra giải quyết riêng khi có yêu cầu.
[4] Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh H; - VKSND tỉnh Khánh H; - VKSND TP. Nha T; - Chi Cục THADS TP. Nha T; - Bị cáo, bị hại, người liên quan; - Công an TP. Nha T; - Sở tư pháp tỉnh Khánh H; - Lưu án văn, hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Bích Liễu |