- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 179/2022/HSST Ngày: 29/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Mỹ Kỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hưng Quang
Ông Nguyễn Trọng Di
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong
Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 167/2022/HSST, ngày 27/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2022/QĐXXST-HS, ngày 14/11/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Đ (tên gọi khác: Cù Đinh Đ); giới tính: Nam; Sinh năm 1978 tại tỉnh Ninh Thuận.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khu phố 05, phường H, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Cha: Đinh Th (đã chết) và Mẹ: Mai Ch, sinh năm 1954; vợ: Võ Ph; con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền sự: không; Tiền án: 02:
Ngày 04/9/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”.
Ngày 08/11/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Nhân thân:
Ngày 15/7/1994 bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 04/6/1997 bị Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng.
Ngày 21/11/2000 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngày 04/01/2001 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 25/12/2009 bị Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo bị bắt ngày 06/9/2022, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong và có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Trần G (có mặt);
Người làm chứng: Trần T (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 05/9/2022 Đinh Đ đi xe đò từ Phan Rang đến thôn V, xã T, huyện Tuy Phong để thăm bạn có tên thường gọi là Vũ và cùng Vũ ăn nhậu đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì nhậu xong. Vũ dùng xe máy chở Đinh Đ đi một đoạn thì dừng lại và nói Đinh Đ đứng đợi. Chờ khoảng hơn 60 phút không thấy Vũ quay lại nên Đinh Đ một mình đi bộ ra hướng đường quốc lộ 1A, lúc này khoảng 01 giờ 30 phút ngày 06/9/2022. Đinh Đ nhìn thấy nhà bán tạp hóa của ông Trần G nơi cửa song sắt phía trước có khoảng trống phía trên có thể trèo vào được nên nảy sinh đột nhập vào nhà để trộm tài sản. Đinh Đ trèo lên khoảng trống này vào trong nhà, đi đến cửa xếp cách đó vài mét rồi đi ra phía sau thì nhìn thấy ông Giắn đang ngủ dưới nền nhà, cạnh bên đầu nằm ông Giắn có đặt chiếc điện thoại di động loại Samsung A6 +kiểu máy SM A605G nên Đinh Đ đến trộm lấy chiếc điện thoại này cất giấu vào người. Đinh Đ đi tiếp ra phía sau nhằm tìm kiếm các đồ vật để trộm cắp thì con chó nhà ông Giắn sủa to làm ông Giắn thức giấc, Đinh Đ sợ bị phát hiện nên lẻn ra trốn cạnh bên bồn cầu nhà vệ sinh phía sau. Ông Giắn thấy chó ra hướng nhà vệ sinh bên bật đèn sáng và đi ra nhà vệ sinh kiểm tra thì phát hiện thấy Đinh Đ, ông Giắn la lên “Vớ ăn trộm” thì con trai ông Giắn là Trần T nghe la nên chạy ra cùng ông Giắn khống chế bắt giữ Đinh Đ, lúc này Đinh Đ lấy trong người ra chiếc điện thoại di động vừa trộm cắp được đưa cho ông Giắn và nói “Chiếc điện thoại em vừa trộm cắp được này”. Ông Giắn gọi điện báo cho Công an xã T đến rồi giao Đinh Đ cùng tang vật cho Công an xã T để xử lý theo quy định của pháp luật.
Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số 55/KL – HĐĐG ngày 08/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
01 điện thoại di động loại Samsung A6 +kiểu máy A605G, trị giá 4.490.000 đồng/ chiếc x 50% = 2.245.000 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 172/QĐ/KSĐT/VKS/HS, ngày 27/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.
Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Đinh Đ từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2022.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Đinh Đ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an huyện Tuy Phong, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 01 giờ 30 phút ngày 06/9/2022 tại thôn V, xã T, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, Đinh Đ có 01 tiền án về tội “Cướp tài sản” và 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục lấy trộm 01 điện thoại di động Samsung A6 +kiểu máy A605G trị giá 2.245.000 đồng của Trần G nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, như lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động, bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của người bị hại. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm minh.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Đinh Đ có 01 tiền án về tội “Cướp tài sản” và 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, tại bản án số 85/2017/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận đã xác định Đinh Đ “tái phạm”. Vì vậy, Đinh Đ phạm tội lần này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cũng cần xem xét nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Trên cơ sở căn nhắc các tình tiết của vụ án và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, qua đó nhằm răn Đinh Đ, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận toàn bộ.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động loại Samsung A6 +kiểu máy A605G, sau khi định giá cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Tuy Phong đã trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định, nên không xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Đinh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đinh Đ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2022.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án ND Tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Tuy Phong; - Công an huyện Tuy Phong; - Bị cáo; bị hại; - Chi cục THADS huyện Tuy Phong; - Lưu Hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lâm Thị Mỹ Kỷ |