- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lang Van D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? TuY bố bị cáo Lăng Văn D, bị cáo Trần Quang T pHm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHA DA QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 179/2021/HS-ST Ngày: 23-11-2021 |
nh©n danh
n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n quËn T©y Hå, Thµnh phè Hµ Néi
- Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Va Anh
Các Hội thẩm nha da:
1. Ông Bùi Quang Luyết
2. Ông Trần Xua Thưởng
--Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Hà-Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nha da quận Tây Hồ tham gia phiên toà:
Bà PHm Thị Mai-Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nha da quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 184/2021/HSST ngày 12 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:
1.Lăng Văn D, sinh năm 1997 tại V P; Hộ khẩu thường trú: Thôn Đ T, huyện T D, tỉnh V P; Chỗ ở: Lang thang không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình D văn hóa: 08/12; Da tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lăng Văn Đ (đã chết) và bà Phùng Thị N; Vợ con: Chưa có; Gia đình có năm chị em, bị cáo là con thứ năm; Theo danh bản, chỉ bản số 205 do Công an quận Tây Hồ lập ngày 25/6/2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 02 tiền án: Bản án số: 86/2018/HSST ngày 28/12/2018 Tòa án nha da (TAND) huyện Y Mỹ, tỉnh Hưng Y xử pHt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án pHt tù ngày ./9/2019, đã nộp án phí, chưa được xóa án tích; Bản án số: 70/2020/HSST ngày 14/5/2020 TAND quận Bắc Từ Liêm xử pHt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tài sản trộm cắp có giá trị 150.000Đ), chấp hành xong án pHt tù ngày 21/8/2020, đã nộp án phí, chưa được xóa án tích. Nha tha: Năm 2013 UBND huyện T D đưa đi trường giáo dưỡng. Bị bắt ngày 18/6/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I, công an TP Hà Nội, có mặt.
2. Trần Quang T, sinh năm 1988 tại V P; Hộ khẩu thường trú: Xã Đ Văn, huyện Y L, tỉnh V P; Chỗ ở: Lang thang không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình D văn hóa: 5/12; Da tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quang L và bà Lê Thị L1; Vợ: Trần Thị H; Con: Có 01 con, sinh năm 2012; Theo danh bản, chỉ bản số 206 do Công an quận Tây Hồ lập ngày 25/6/2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt ngày 18/6/2021, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số I, công an TP Hà Nội, có mặt.
Bị Hi:
- Anh Nguyễn Đ C, sinh năm 1965; Trú tại: Số 42, ngõ 416 L L Qua, phường Nhật Ta, quận Tây Hồ, TP Hà Nội, vắng mặt.
- Chị PHm Nguyệt N, sinh năm 1960; Trú tại: Số nhà ., ngõ ., đường, quận Đ, TP Hà Nội, vắng mặt.
- Công ty cổ phần công nghệ cây xanh K A; Trụ sở: số 559 L L Qua, phường Xua La, quận Tây Hồ, Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Hà Quang D-Chủ tịch hội Đ quản trị; Đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị QuY, sinh năm 1985; Trú tại: Xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô, tỉnh V P, vắng mặt.
Néi dung vô ¸N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 0 giờ 15phút ngày 18/6/2021, Lăng Văn D và Trần Quang T rủ nhau đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nha. Khi cả hai đi đến khu vực Công viên nước Hồ Tây, phường Nhật Ta, quận Tây Hồ, Hà Nội thì phát hiện 01 lán nhỏ cạnh hàng rào, giáp đầm sen, cả hai chui qua hàng rào vào khu vực lán, lấy đi 01 tủ sấy, 01 bếp ga, 01 vỏ bình ga, sau đó đi ra khu vực phía sau công viên nước. Khi ra bên ngoài, phát hiện có 01 chiếc đầu máy nổ để ở khu vực vườn đào nên đã lấy luôn chiếc đầu máy nổ, cả hai để lại các tài sản vừa trộm cắp được rồi đi tìm xe để vận chuyển ra bên ngoài. Khi đi ra đến khu vực sa bóng gần Tòa án nha da quận Tây Hồ thì phát hiện một số xe chở rác để ở đó nên đã lấy 01 xe, tháo bỏ phần thùng xe rồi đẩy đến chỗ để các tài sản vừa trộm cắp được, cho các tài sản đó lên xe rồi đẩy đi về hướng Tô Ngọc Va, phường Nhật Ta. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày khi cả hai đi đến trước số nhà 49/52 Tô Ngọc Va thì bị tổ công tác công an phường Nhật Ta kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra D và T không xuất trình được giấy tờ tùy tha nên các Đ chí công an đã đưa các đối tượng về trụ sở công an phường Nhật Ta để làm rõ. Tại cơ quan công an D, T đã khai nhận các tài sản trên là do vừa trộm cắp được mà có.
Vật chứng thu giữ: 01 tủ sấy tiệt trùng, 01 bếp ga công nghiệp, 01 vỏ bình ga, 01 xe đẩy ba bánh (không có thùng xe), 01 đầu máy nổ.
Ngày 18/6/2021 anh Nguyễn Đ C, có đơn trình báo về việc bị mất trộm 01 đầu máy nổ; chị PHm Thị Nguyệt N có đơn trình báo về việc bị mất 01 tủ sấy tiệt trùng nhãn hiệu Galy màu trắng, 01 bếp ga công nghiệp, 01 vỏ bình ga màu hồng Petro Việt Nam loại 12kg. Chị Nguyễn Thị QuY có đơn trình báo về việc bị mất 01 xe đẩy ba bánh (không có thùng xe). Các tài sản trên đều đã qua sử dụng.
Cơ quan điều tra (CQĐT) đã thu giữ của D: 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia.
Tại kết luận định giá tài sản số 152/KL-HĐĐG ngày 21/6/2021 của Hội Đ định giá tài sản tố tụng hình sự-UBND quận Tây Hồ, xác định:
- 01 tủ sấy Galy, đã qua sử dụng có giá 100.000Đ.
- 01 đầu nổ Diesel D8, đã qua sử dụng có giá 640.000Đ.
- 01 bếp ga công nghiệp, đã qua sử dụng có giá: 100.000Đ.
- 01 vỏ bình ga loại 12kg, đã qua sử dụng có giá: 220.000Đ.
- 01 xe đẩy ba bánh, đã qua sử dụng có giá: 1.000.000Đ.
Tổng: 2.060.000Đ.
Ngày 09/9/2021 CQĐT công an quận Tây Hồ đã ra quyết định xử lý vật chứng và đã trao trả tài sản cho bị Hi là anh Nguyễn Đ C, chị PHm Thị Nguyệt N, Công ty cổ phần công nghệ cây xanh K A (do chị QuY đại diện) các tài sản mà D, T chiếm đoạt, các bị Hi đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác về da sự.
Đối với 01 điện thoại di Dng, đã qua sử dụng thu giữ của D, D khai là tài sản cá nha do lao Dng mà có.
Bản cáo trạng số 183/CT-VKS ngày 11/10/2021 của Viện kiểm sát nha quận Tây Hồ đã truy tố Lăng Văn D và Trần Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại CQĐT và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi pHm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai nha chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.
Đại diện VKSND quận Tây Hồ luận tội: Sau khi pha tích tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi pHm tội, nha tha của các bị cáo, kết luận: Các bị cáo pHm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo D có nha tha xấu: Năm 2013 UBND huyện T D đưa đi trường giáo dưỡng; Có 02 tiền án, chưa được xóa án. Bị cáo T pHm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nha tha không có tiền án tiền sự. Đề nghị Hội Đ xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 (bị cáo T áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51; bị cáo D áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS); Áp dụng Điều 38, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 BLTTHS; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án, lệ phí Tòa án: Xử pHt bị cáo Lăng Văn D từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù; xử pHt bị cáo Trần Quang T từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù. Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại di Dng đã qua sử dụng. Các bị cáo, bị Hi có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo biết việc bị cáo trộm cắp tài sản của các bị Hi là sai, vi pHm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình pHt cho bị cáo.
NhËn ®Þnh cña Tßa ¸n:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của CQĐT công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, VKSND quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về nội dung: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại CQĐT, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 0 giờ 15 phút ngày 18/6/2021 tại khu vực Công viên nước Hồ Tây, phường Nhật Ta, quận Tây Hồ, Hà Nội, Lăng Văn D và Trần Quang T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Đ C: 01 đầu nổ Diesel D8, đã qua sử dụng, có giá trị 640.000Đ; của chị PHm Thị Nguyệt N: 01 tủ sấy Galy, đã qua sử dụng, có giá trị 100.000Đ, 01 bếp ga công nghiệp, đã qua sử dụng, có giá trị: 100.000Đ, 01 vỏ bình ga loại 12kg, đã qua sử dụng, có giá trị: 220.000Đ; của Công ty cổ phần công nghệ cây xanh K A 01 xe đẩy ba bánh (không có thùng xe), đã qua sử dụng, có giá trị: 1.000.000Đ.
Tổng giá trị các tài sản các bị cáo đã trộm cắp là: 2.060.000Đ.
Cáo trạng của VKSND quận Tây Hồ truy tố các bị cáo về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
HĐXX xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm pHm đến quyền sở hữu tài sản của công da, gây mất trật tự trị an xã hội, các bị cáo pHm tội với lỗi cố ý, mục đích thu lợi bất chính.
Bị cáo D nha tha xấu: Có 02 tiền án chưa được xóa án tích, năm 2013 UBND huyện T D đưa đi trường giáo dưỡng. Bị cáo T nha tha không có tiền án tiền sự, tuy nhiên theo cung cấp của chính quyền địa phương nơi bị cáo có hộ khẩu thường trú, bị cáo không cư trú tại địa phương. Do vậy HĐXX xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa C.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo D có 02 tiền án chưa được xóa án tích: Bản án số: 86/2018/HSST ngày 28/12/2018 TAND huyện Y Mỹ xử pHt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án pHt tù ngày ./9/2019, đã nộp án phí, chưa được xóa án tích. Bản án số: 70/2020/HSST ngày 14/5/2020 TAND quận Bắc Từ Liêm xử pHt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tài sản trộm cắp có giá trị 150.000Đ), chấp hành xong án pHt tù ngày 21/8/2020, đã nộp án phí, chưa được xóa án tích, lần pHm tội này là tái pHm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS nên mức hình pHt áp dụng đối với bị cáo D là cao hơn bị cáo T.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo T pHm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.
Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình pHt bổ sung là pHt tiền.
Về trách nhiệm da sự: Các bị Hi đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không xét.
Đối với 01 điện thoại thu giữ của bị cáo D là tài sản của bị cáo không L1 quan đến hành vi pHm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị Hi có quyền kháng cáo phần bản án có L1 quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
TuY bố bị cáo Lăng Văn D, bị cáo Trần Quang T pHm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử pHt bị cáo Lăng Văn D 13 (mười ba) tháng tù. Thời Hn tù tính từ ngày 18/6/2021.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử pHt bị cáo Trần Quang T 06 (sáu) tháng tù. Thời Hn tù tính từ ngày 18/6/2021.
Áp dụng Điều 106, 331, 333, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Lăng Văn D: 01 (một) điện thoại Nokia 105, màu đen, đã qua sử dụng (hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi Hành án da sự quận Tây Hồ, biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2021).
Các bị cáo Lăng Văn D, Trần Quang T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn Đ) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong Hn 15 ngày kể từ ngày tuY án.
Bị Hi có quyền kháng cáo phần bản án có L1 quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong Hn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Thµnh viªn héi ®ång xÐt xö
ThÈm ph¸n-Chñ to¹ phiªn toµ