vanban.org

Bản án 179/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 22/10/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Thảo.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Tđược ly hôn anh Trần Phương N. Về con chung: Chị Ngô Thị Txác định không có con chung với anh Trần Phương N, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Thảo + Nam"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Thảo.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2021/HNGĐ-ST
Ngày 22-10-2021
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 137/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2021 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 278/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Thảo, nơi cư trú: ĐN, xã QC, huyện VY, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt và xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Phương N, nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam: Thôn Y, xã VQ, huyện TL, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Tiệp Khắc. Vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn chị Ngô Thị Ttrình bày:

Chị kết hôn với anh Trần Phương N trên cơ sở tự nguyện của hai bên, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã VQ, huyện TL, thành phố Hải Phòng vào ngày 11 tháng 9 năm 2018. Trên thực tế, trước khi kết hôn với nhau, anh chị quen biết nhau qua mạng xã hội được khoảng 20 ngày. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc được mấy tháng đầu thì anh N đi lao động ở Tiệp Khắc. Do xa cách về địa lý nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng không thường xuyên liên lạc, trò chuyện và không tin tưởng nhau về tình cảm. Vợ chồng đã cố gắng hòa hợp song mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Mặc dù mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải song không đạt kết quả. Anh chị đã sống ly thân với nhau gần 3 năm nay, mỗi người sống một nơi. Chị Tchỉ biết hiện nay anh N sinh sống, lao động ở Tiệp Khắc còn địa chỉ cụ thể ở đâu thì chị không rõ. Tuy nhiên, anh N vẫn liên lạc với người thân trong gia đình anh là ông Trần Văn Bvà bà Nguyễn Thị H, địa chỉ: Thôn Y, xã VQ, huyện TL, thành phố Hải Phòng (bố mẹ đẻ anh N). Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Trần Phương N càng sớm cảng tốt để chị nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Trần Phương N:

Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý cho bố mẹ đẻ anh Trần Phương N là ông Trần Văn Bvà bà Nguyễn Thị H. Tòa án đã 2 lần thông báo cho ông Trần Văn Bvà bà Nguyễn Thị H cung cấp địa chỉ của anh N ở Tiệp Khắc và yêu cầu ông Bắc, bà Hải cho biết kết quả về việc ông, bà đã thông báo cho anh N để gửi lời khai về Tòa án chưa. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Trần Văn Bthể hiện: Anh N vẫn thường xuyên liên lạc với vợ chồng ông bà nhưng ông Bắc, bà Hải không biết địa chỉ cụ thể anh N ở Tiệp Khắc. Ông Bắc, bà Hải đã thông báo cho anh N về yêu cầu của Tòa án. Anh N có quan điểm: Anh N đồng ý ly hôn với chị Tnhưng anh không thể gửi lời khai về cho Tòa án vì công việc của anh bận, dịch bệnh Covid phức tạp nên điều kiện đi lại khó khăn. Gia đình Bắc, bà Hải đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Tvà anh N được ly hôn càng sớm càng tốt để anh chị ổn định cuộc sống.

Tại Công văn số 19683/QLXNC-P5 ngày 06/9/2021 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an thể hiện: Anh Trần Phương N đã xuất cảnh gần nhất ngày 14/9/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

Tại phiên tòa, chị Ngô Thị Tvà anh Trần Phương N đều vắng mặt và chị Txin xét xử vắng mặt, không thay đổi lời khai như đã gửi Tòa án.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đa chấp hành đúng cã

́c quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng dân sự; nguyên đơn đa thực hiện đũ

́ng các quyền và nghia vu ̣ đúng theo quỹ định của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự; bị đơn anh Trần Phương N vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Ngô Thị Tvà anh Trần Phương N xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào ngày 11 tháng 9 năm 2018 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị Thảo. Về con chung, tài sản chung: Chị Txác định không có con chung, tài sản chung với anh N và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn anh Trần Phương N có hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng nhưng hiện đang sinh sống ở nước ngoài (Tiệp Khắc), nguyên đơn chị Ngô Thị Thiện nay đang sinh sống tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Ngô Thị Tvà anh Trần Phương N đều vắng mặt, chị Tđề nghị xét xử vắng mặt. Việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Trần Phương N: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Trần Phương N vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Ngô Thị Tvà anh Trần Phương N xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào ngày 11 tháng 9 năm 2018 theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng thể hiện: Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được mấy tháng đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị Ngô Thị Tsinh sống ở Việt Nam còn anh Trần Phương N sinh sống ở Tiệp Khắc. Chính sự xa cách về địa lý nên dẫn đến vợ chồng không tin tưởng nhau về tình cảm, việc liên lạc, quan tâm đến nhau bị hạn chế. Vợ chồng đã cố gắng hòa hợp song mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau được một khoảng thời gian dài, mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải song không đạt kết quả. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Tvà anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Ngô Thị Tđược ly hôn với anh Trần Phương N.

Về con chung: Chị Ngô Thị Txác định không có con chung với anh Trần Phương N, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Ngô Thị Txác định không có tài sản chung với anh Trần Phương N, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ngô Thị Tlà nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị Tvà anh Trần Phương N được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Thảo.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Tđược ly hôn anh Trần Phương N.

2. Về con chung: Chị Ngô Thị Txác định không có con chung với anh Trần Phương N, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Ngô Thị Txác định không có tài sản chung với anh Trần Phương N, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ngô Thị Tphải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân

́ sự sơ thẩm đa nô ̣̃ p là 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng

̀

án phí số 0019927 ngày 20 tháng 8 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Ngô Thị Tđa nô ̣̃ p đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị T(vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Anh Trần Phương N (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ