- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Huỳnh Quốc D. Buộc ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P trả cho ông Huỳnh Quốc D số tiền còn nợ là 598.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 179/2021/DS-ST Ngày: 11-11-2021 V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
Ông Trần Hoàng Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 11 tháng 11 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 156/2021/TLST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2021/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Quốc D, sinh năm 1951 (có mặt).
Cư trú tại: Ấp C, xã P, huyện P, tỉnh C.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn K (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị P (vắng mặt).
Cùng cư trú tại: Ấp L, xã P, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 4 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Huỳnh Quốc D trình bày: Ông Huỳnh Quốc D là chủ doanh nghiệp mua bán thức ăn, thuốc thủy sản. Qua thời gian mua bán từ năm 2015 đến năm 2019 ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P còn nợ ông với tổng số tiền là 598.000.000 đồng.
-1-
Sau đó giữa ông với ông K và bà P đã đối chiếu xác nhận công nợ với nhau. Từ khi chốt nợ đến nay ông K và bà P chưa trả tiền cho ông.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P trả cho ông số tiền nợ là 598.000.000 đồng.
- Đối với ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông K và bà P vắng mặt không có lý do và không cung cấp lời khai cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Huỳnh Quốc D khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P trả tiền mua thuốc và thức ăn thủy sản. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P.
[3] Về nội dung tranh chấp: Ông Huỳnh Quốc D xác định giữa ông với ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P có thỏa thuận hợp đồng mua bán thức ăn và thuốc thủy sản. Trong thời gian hợp đồng ông đã cung cấp thức ăn, thuốc thủy sản cho ông K và bà P. Hai bên có đối chiếu số nợ và ông K, bà P có ký nhận nợ. Ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P có thỏa thuận hợp đồng mua bán thức ăn và thuốc thủy sản của ông Huỳnh Quốc D và còn nợ lại ông D số tiền 598.000.000 đồng là thực tế xảy ra. Cụ thể đến ngày 10/10/2015 ông K và bà P nợ 151.000.000 đồng; ngày 29/11/2016 ông K và bà P nợ 54.000.000 đồng; ngày 12/01/2018 ông K và bà P nợ 135.000.000 đồng; ngày 12/7/2018 ông K và bà P nợ 97.000.000 đồng; ngày 29/02/2019 ông K và bà P còn nợ 161.000.000 đồng. Ông D đã nhiều lần yêu cầu ông K và bà P thực hiện nhưng ông K và bà P không thanh toán cho ông D. Sổ theo dõi ghi nợ có nội dung là ông K và bà P còn nợ lại ông D 598.000.000 đồng, ông K và bà P có ký tên đúng như ông D trình bày. Đối với ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P đã được triệu tập nhiều lần nhưng không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do ông Huỳnh Quốc D cung cấp, ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P cũng không có yêu cầu phản tố. Do đó ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ông Huỳnh Quốc D, đồng thời
-2-
buộc ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P trả cho Huỳnh Quốc D tổng số tiền còn nợ 598.000.000 đồng là có cơ sở.
[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nay buộc ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; nguyên đơn được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự và áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Huỳnh Quốc D. Buộc ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P trả cho ông Huỳnh Quốc D số tiền còn nợ là 598.000.000 đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Buộc ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P phải chịu 27.920.000 đồng.
Ông Huỳnh Quốc D được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không đặt ra xem xét.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Ông Huỳnh Quốc D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh Văn K và bà Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
-3-
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS (khi có hiệu lực); - Phòng KTNV&THA (TAND tỉnh Cà Mau); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu trữ. -4- | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |