- Tranh chấp gì? án hình sự — "mai van c - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c, Khoản 2, Điều 173; Khoản 1, Điều 47; Điểm s, Khoản 1, Điều 51; Điểm h, Khoản 1 Điều 52; Điều 56 của Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 179/2020/HS-ST Ngày 29 - 6 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngũ Minh Luận
- Bà Lê Thị Nguyệt
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Trung Tín, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 166/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 172/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Mai Văn C, sinh năm 1992 tại tỉnh T; hộ khẩu thƣờng trú: Thôn Phú Nhi, xã H, huyện H1, tỉnh T; chổ ở trƣớc khi bị bắt: Phƣờng A, Quận 12, Thành phố H; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Tài xế; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Mai Văn M (đã chết) và bà Vũ Thị N, sinh năm 1974; vợ tên Vũ Thị H1, sinh năm 1994; bị cáo có 01 ngƣời con sinh năm 2016; bị cáo có 01 tiền án: Ngày 24/5/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố H xử phạt 3 năm tù, cho hƣởng án treo với thời gian thử thách 5 năm tính từ ngày 24/5/2019 về tội Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 87/2019/HSST; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2019 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Đặng Đ, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Mai Động, xã T1, huyện B1, tỉnh H1; tạm trú: Phƣờng B1, thành phố T2, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn T2, xã L1, huyện T3, tỉnh N1, vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Đào Văn H3, sinh năm 1986, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 13/12/2019, Mai Văn C thuê xe ôm đi từ Thành phố H đi đến nhà bạn tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng để chơi, khi đến khu vực chợ Hài Mỹ thuộc khu phố Bình Phú, phƣờng Bình Chuẩn, thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, C phát hiện lề đƣờng bên trái có 01 chiếc xe ba bánh nhãn hiệu YINXIANG biển số 18H1-6435 của ông Đặng Đ đang dừng trƣớc địa chỉ số: 15/18C, khu phố Bình Phú, phƣờng Bình Chuẩn, thị xã (nay là thành phố) Thuận An tỉnh Bình Dƣơng, C nãy sinh ý định trộm bán lấy tiền tiêu xài nên xuống xe và đi đến một cửa hàng vật liệu xây dựng (không rõ tên, địa chỉ) mua 01 cây kìm cắt dây điện dài 18 cm và quay lại chỗ để xe lén lút dùng kìm cắt dây điện ổ khóa rồi lên xe khởi động máy, điều khiển xe chạy về hƣớng đƣờng Lê Thị Trung. Tuy nhiên, lúc này ông Đ đang ngồi trong nhà, nhìn qua thấy bị cáo điều khiển xe của ông Đ đi nên điều khiển xe mô tô đuổi theo và bắt kịp bị cáo tại địa chỉ số 41/17, khu phố Bình Phƣớc A, phƣờng Bình Chuẩn, thị xã (nay là thành phố) Thuận An, ông Đ cùng quần chúng nhân dân bắt giữ C cùng tang vật giao cho Công an xử lý.
Tang vật thu giữ trong vụ án gồm: 01 cây kìm bằng kim loại dài 18cm, có tay cầm bọc nhựa màu xanh và 01 xe ba bánh màu xanh nhãn hiệu YINXIANG biển số 18H1 - 6435.
Tại bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An ngày 13/12/2019 kết luận: 01 chiếc xe ba bánh nhãn hiệu YINXIANG biển số 18H1-6435 trị giá 70.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị hại Đặng Đ trình bày: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 13/12/2019, ông Đ đậu xe ba gác biển số 18H1-6435 trƣớc địa chỉ 15/18C, khu phố Bình Phú, phƣờng Bình Chuẩn, thị xã (nay là thành phố) Thuận An tỉnh Bình Dƣơng để về nhà (đối diện). Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì ông Đ nhìn thấy bị cáo C điều khiển xe trên chạy ra đƣờng và chạy về hƣớng Lê Thị Trung nên ông Đ điều khiển xe mô tô đuổi theo và đến tại địa chỉ số 41/17, khu phố Bình Phƣớc A, phƣờng Bình Chuẩn, thị xã (nay là thành phố) Thuận An thì ông Đ cùng ông Đào Văn H3 bắt đƣợc bị cáo và giao Công an xử lý. Đối với xe ba bánh nhãn hiệu YINXIANG biển số 18H1-6435 thì ông Đ mua vào khoảng tháng 3/2018 với giá 130.000.000 đồng của một ngƣời đàn ông không nhớ rõ tên, địa chỉ, việc mua bán không làm giấy tờ và không sang tên do ông Đ chỉ đƣợc ngƣời bán giao cho bản photo giấy đăng ký.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị G trình bày: Bà Giang chƣa bao giờ đứng tên chủ sở hữu đối với xe nào mang biển số 18H1-6435 và cũng không có bất kỳ chiếc xe ba gác nào mang biển số nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 184/CT-VKS-TA ngày 05 tháng 6 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Mai Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c, Khoản 2, Điều 173; Điểm s, Khoản 1, Điều 51 và Điểm h, Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Mai Văn C mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 87/2019/HSST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố H, bị cáo phải chấp hành tổng cộng hình phạt từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.
Về phần trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thƣờng cho bị hại Đ 45.000.000 đồng.
Về phần vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cây kìm bằng kim loại dài 18cm, có tay cầm bọc nhựa màu xanh; đề nghị giao lại cho Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra làm rõ đối với xe mô tô ba bánh nhãn hiệu YINXIANG biển số 18H1-6435.
- Bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về lo cho con nhỏ và mẹ già.
Bị hại Đặng Đ trình bày lời khai nhƣ đã khai tại quá trình điều tra vụ án. Về hình phạt đối với bị cáo thì bị hại đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Mai Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại; lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 13/12/2019, tại 15/18C, khu phố Bình Phú, phƣờng Bình Chuẩn, thị xã (nay là thành phố) Thuận An tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo C đã có hành vi lén lút dùng kềm cắt dây điện của xe và chiếm đoạt 01 xe ba bánh nhãn hiệu YINXIANG biển số 18H1-6435 trị giá 70.000.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo Mai Văn C với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhƣng vì tƣ lợi cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện, bất chấp hậu quả. Bản thân bị cáo trƣớc đây đã bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, đang trong thời gian thử thách của án treo, lẽ ra phải biết tự cải tạo bản thân, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật nhƣng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tội phạm, cho thấy thái độ xem thƣờng pháp luật, do đó, cần phải có mức án nghiêm để đủ thời gian răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành ngƣời có ích và phòng ngừa chung trong xã hội.
Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nhƣ sau:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 24/5/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố H xét xử về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chƣa chấp hành xong hình phạt lại tiếp tục phạm tội mới nên thuộc trƣờng hợp tái phạm theo Điểm h, Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Bản án số 87/2019/HSST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố H đã xử phạt 3 năm tù, cho hƣởng án treo với thời gian thử thách 5 năm tính từ ngày 24/5/2019. Bị cáo C đang trong thời gian chấp hành bản án này lại phạm tội mới nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Khoản 1, Điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 để tổng hợp thành hình phạt tù có thời hạn.
Xét thấy, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tƣơng xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo C tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại Đ số tiền 45.000.000 đồng. Xét đây là ý chí tự nguyện của bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 cây kìm bằng kim loại dài 18cm, có tay cầm bọc nhựa màu xanh là công cụ của bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe ba bánh, nhãn hiệu YINXIANG biển số 18H1-6435 do bị hại Đặng Đ quản lý, sử dụng do chƣa xác định đƣợc chủ sở hữu nên sẽ giao lại cho Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra làm rõ.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Mai Văn C phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật; xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm c, Khoản 2, Điều 173; Khoản 1, Điều 47; Điểm s, Khoản 1, Điều 51; Điểm h, Khoản 1 Điều 52; Điều 56 của Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Điều 106, 136, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ Luật Dân sự năm 2015;
Khoản 1, Điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Mai Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Mai Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 87/2019/HSST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố H. Tổng cộng bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/12/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Mai Văn C phải bồi thƣờng cho bị hại Đặng Đ số tiền 45.000.000 đồng (bốn mƣơi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành cho đến khi thi hành xong, nếu ngƣời phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án số tiền lãi theo quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự tƣơng ứng với thời hạn và số tiền chậm trả.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kìm bằng kim loại dài 18cm, có tay cầm bọc nhựa màu xanh là công cụ của bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Giao lại cho Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục điều tra xử lý đối với 01 (một) xe ba bánh (xe ba gác) màu xanh, nhãn hiệu YINXIANG, gắn biển số 18H1-6435; số khung LB415H1021B000245, số máy 162MK*1B000245* đã qua sử dụng (không kiểm tra tình trạng bên trong).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 5 năm 2020 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về án phí: Bị cáo Mai Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Dƣơng;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Bình Dƣơng;
- Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng;
- VKSND thành phố Thuận An;
- Công an thành phố Thuận An;
- Công an xã H, huyện H1, tỉnh T;
- Chi cục THADS thành phố Thuận An;
Nguyễn Tố Uyên
- Bị cáo; BH; NLQ;
- Lƣu: HS, THAHS, VT.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Bị cáo; bị hại; NLQ; - Lƣu: HS, THAHS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tố Uyên |