- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Mạnh H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Mạnh H phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 179/2019/HSST Ngày 28-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Xuân Tĩnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nhật Chiến
Bà Đào Hoàng Yến
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đình Sắc, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 176/2019/TL-HSST ngày 04 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Bùi Mạnh H- Tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh ngày 23 tháng 12 năm 1991 tại tỉnh Bắc Kạn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị T; vợ là Hoàng Thị N (đã ly hôn); con: Có 01 người sinh năm 2013 hiện ở với chị Hoàng Thị N. Tiền sự: Không có; tiền án: Có 03 tiền án tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2015/HSST ngày 15/9/2015 Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2016/HSST ngày 25/11/2016 Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 08/5/2018 Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/7/2019.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2019 đến nay, có mặt.
- Bị hại: Ông Giáp Kim L, sinh năm 1971; địa chỉ Khu Đô thị P, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Giáp Kim U; anh Nguyễn Văn T; chị Phạm Thị H, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/8/2019 Bùi Mạnh H, sinh ngày 23/12/1991, trú tại thôn T2, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đến công trình xây dựng do ông Giáp Kim L làm chủ thầu tại Khu Đô thị P, phường H, thành phố L để xin làm phụ hồ. Ngày 13/8/2019 thợ xây nghỉ ăn rằm tháng 7 âm lịch, nên Bùi Mạnh H xin ứng tiền công được 200.000 đồng đi chơi điện tử. Đến khoảng 20 giờ ngày 15/8/2019 bị cáo quay lại lán thợ xây mục đích ứng thêm tiền, nhưng không thấy có ai, đã nảy ý định trộm cắp tài sản, Bùi Mạnh H trèo vào trong lán lấy được 01 máy cắt sắt, 01 quạt điện, dùng búa phá khóa hòm gỗ lấy được 01 máy cạo râu, rồi cho các tài sản đã trộm được vào bao tải dứa có sẵn tại đó trèo theo đường cũ ra khỏi lán và giấu quạt điện vào bụi cây gần lán, còn mang máy cắt sắt đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Nguyễn Văn T tại số 411C đường T, phường T, thành phố L bán được 100.000 đồng, còn chiếc máy cạo râu do hỏng đã vứt đi, rồi tiếp tục đi chơi điện tử.
Đến 7 giờ ngày 16/8/2019 Bùi Mạnh H quay lại lấy chiếc quạt điện mang đến cửa hàng của anh Nguyễn Văn T bán cho chị Phạm Thị H (vợ anh T) được 100.000 đồng và tiếp tục đi chơi điện tử. Tối cùng ngày Bùi Mạnh H quay lại lán công trình ngủ, đến 4 giờ 30 phút ngày 17/8/2019 thức dậy thấy có dây điện, đã lấy trộm cuộn lại cho vào bao tải dứa, đang thực hiện thì bị ông Giáp Kim U là thợ xây phát hiện bắt giữ đưa đến công an phường H trình báo. Công an đã tiến hành thủ tục bắt người phạm tội quả tang, để điều tra theo quy định.
Qua điều tra thu giữ 02 cuộn dây điện vỏ bằng nhựa dẻo, ruột bằng kim loại, kích thước 1,5cm x 80m; 01 máy cắt sắt trên máy có chữ moder; 01 quạt điện màu đen nhãn hiệu Media đều đã qua sử dụng. Tại biên bản định giá tài sản số 172 ngày 17/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 80m dây điện, 01 máy cắt sắt, 01 quạt điện trị giá là 2.640.000đồng.
Tại bản cáo trạng số 177/KSĐT ngày 04/10/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, truy tố bị cáo trước Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn để xét xử tội Trộm cắp tài sản, theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đối với anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị H làm nghề thu mua phế liệu, khi mua các tài sản đều không biết do Bùi Mạnh H trộm cắp, nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý về hình sự. Về số tiền 200.000đồng đã bỏ ra mua tài sản, vợ chồng anh Nguyễn Văn T không yêu cầu đòi bồi thường.
Về vật chứng: Dây điện, máy cắt sắt, quạt điện đã trả lại cho chủ sở hữu và ông Giáp Kim L xác định là đã nhận đủ, không yêu cầu bồi thường; về máy cạo râu, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được và bị hại khai đã hỏng không sử dụng được và cũng không yêu cầu bồi thường.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên; tại bản trình bày, biên bản lấy lời khai bị hại cũng khai đúng nội dung sự việc như trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để trộm cắp tài sản trị giá 2.640.000đồng, nên đã phạm tội Trộm cắp tài sản, do trước đó đã phạm tội trộm cắp tài sản bị xác định là tái phạm, chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng, không có; về giảm nhẹ bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 - 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; truy thu số tiền 200.000đồng do phạm tội mà có nộp ngân sách Nhà nước; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận, nhận tội và xin được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo cải tạo, sớm về đoàn tụ cùng gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy như sau:
Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, thể hiện ngày 15 và 17/8/2019 Bùi Mạnh H lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trộm cắp 01 máy cắt sắt, 01 quạt điện, 02 cuộn dây trị giá 2.640.000 đồng rồi bán lấy tiền chơi điện tử. Bị cáo đã 2 lần phạm tội trộm cắp tài sản bị kết án tù. Ngày 08/5/2018 lại phạm tội bị Tòa án xác định là tái phạm, xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 23/7/2019 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích. Nên lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm theo điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Do vậy tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản, theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
Đánh giá hành vi, hậu quả, mức độ phạm tội, bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, trị an trên địa bàn.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân xấu, ham chơi điện tử, lười lao động. Về tăng nặng không có; về giảm nhẹ có 01 tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo.
Về quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.
Từ những nhận định đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, đủ để bị cáo cải tạo sau này trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền, quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do bị cáo không có tài sản để nộp phạt, nên không phạt bổ sung.
Về bồi thường dân sự: Ông Giáp Kim L đã nhận lại các tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường; còn máy cạo râu đã hỏng không yêu cầu, nên không xem xét. Đối với anh Nguyễn Văn T, chị Phạm Thị H mua tài sản với bị cáo, không biết là trộm cắp nên không đủ căn cứ xử lý, về số tiền 200.000đồng mua tài sản vợ chồng anh Nguyễn Văn T không yêu cầu, nên không xem xét. Nhưng cần truy thu 200.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có để nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí Toà án. Buộc Bùi Mạnh H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.
Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Mạnh H phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Bùi Mạnh H 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 17/8/2019.
- Truy thu số tiền 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng), do bị cáo Bùi Mạnh H phạm tội mà có, để nộp ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: Bị cáo Bùi Mạnh H phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tp Lạng Sơn; - Công an tp Lạng Sơn; - CCTHA DS tp Lạng Sơn; - Bị cáo, bị hại; - Lưu HS + Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Xuân Tĩnh |