vanban.org

Bản án 179/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 19/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản

năm 2015 . Xử phạt: Ngô Đức T 06 ( sáu ) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Đức T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2019 /HS-ST
Ngày: 19/ 11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Hiếu

2. Ông Nguyễn Hồng Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận

Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên.

Trong ngày19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà

Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 186/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/ 2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Đức T, sinh ngày 13 tháng 7 năm 1989; tại: Hà Nội; Nơi

đăng ký HKTT: Thôn P, xã P, huyện U, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tich: Việt Nam; Con ông Ngô Xuân C và bà Nguyễn Thị T; Vợ con: Chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/7/2019 đến ngày 28/7/2019. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

*Bị hại:

Anh Vũ Văn H, sinh năm 1989

Địa chỉ: Xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/7/2019, Ngô Đức T đi bộ một mình quanh

khu vực gần trụ sở Công an phường Dương Nội, quận Hà Đông, khi đi đến khu đất dịch vụ 27, 28 thuộc phường Dương Nội, quận Hà Đông, thì phát hiện thấy trước cửa văn phòng số No14, LK615 khu đất dịch vụ 27, 28 có 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave RSX, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 17B1-275.57, số máy C43E6351417, số khung 325BY5044436 của anh Vũ Văn H, sinh năm (SN) 1989, trú tại xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình đang dựng trước cửa văn phòng chìa khóa điện vẫn cắm ở xe đang trong tình trạng mở, đầu xe H vào văn phòng, đuôi xe H ra đường. Thấy vậy, Ngô Đức T nảy sinh ý định Trộm cắp chiếc xe máy trên của anh Vũ Văn H. T quan sát thấy không ai để ý, xe không có người trông giữ, cửa của văn phòng là cửa quấn, đã hạ xuống cách mặt đất khoảng 01 mét và không có ai trong văn phòng. T ngồi lên chiếc xe máy, lùi xe lại và ấn nút khởi động, vào số tăng ga bỏ chạy ra đường. Khi đó anh H đang ở trong văn phòng phát hiện ra và chạy bộ đuổi theo hô “cướp, cướp”. T điều khiển chiếc xe máy bỏ chạy, khi đi đến một xưởng sản xuất ni lông ở cuối đường, thì phát hiện ngõ cụt nên quay đầu xe lại và bị anh H đuổi kịp và cùng quần chúng nhân dân bắt giữ T, chiếc xe máy đổ ra đường. Sau đó, Công an phường Dương Nội đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ gồm: 01(một) chiếc xe máy Honda Wave

RSX, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 17B1-275.57, số khung 325BY4054436, số máy C43E6351417 đã qua sử dụng và 01 chiếc chìa khóa bằng kim loại màu trắng, chuôi bằng nhựa màu đen có in hình logo và chữ “HONDA” là tài sản Ngô Đức T đã chiếm đoạt của anh Vũ Văn H.

Tại Kết luận định giá tài sản số 162/KL-HĐĐG ngày 22/7/2019 của Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hà Đông, kết luận: “Tổng giá trị của chiếc xe máy Honda wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 17B1-275.57, số máy C43E6351417, số khung 325BY5044436 trong vụ án trên tại thời điểm định giá là 9.500.000 đồng”.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu

Honda wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 17B1-275.57, số máy C43E6351417, số khung 325BY5044436 và 01chiếc chìa khóa bằng kim loại màu trắng, đã thu giữ nêu trên, cho người bị hại là anh Vũ Văn H, anh H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về phần dân sự .

Trước cơ quan điều tra, bị can Ngô Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập hợp pháp, hiện có trong hồ sơ vụ án .

Tại bản cáo trạng số 182/CT-VKS-HĐ ngày 17/10/2019 của Viện kiểm sát

nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Ngô Đức T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 .

Tại phiên tòa:

Bị cáo Ngô Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan

điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông thực hành quyền công tố

tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Ngô Đức T như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ

luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Đức T từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

bắt thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Vũ Văn H đã nhận lại tài sản và

không có yêu cầu gì về phần dân sự

Bị cáo Ngô Đức T không có tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện

kiểm sát nhân dân quận Hà Đông.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của

mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra

Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ,bị cáo Ngô Đức T không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô Đức

T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ trong vụ án và kết luận giám định. Đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 19/7/2019, tại khu vực trước cửa văn phòng số

No14, LK615 khu đất dịch vụ 27,28 phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Ngô Đức T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Vũ Văn H, tài sản là 01(một) chiếc xe máy Honda wave RSX, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 17B1-275.57, số máy C43E6351417, số khung 325BY5044436 trị giá 9.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Ngô Đức T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản „ được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 . Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Ngô Đức T theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét hành vi

phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu đến cùng để phục vụ cho mục đích chi tiêu cá nhân của mình. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật.

.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết

tăng nặng trách nhiệm hình sự.

.Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Ngô Đức T đã thành khẩn khai

báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, Tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Do đó bị cáo đủ điều kiện hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 .

.Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự .

. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi

phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy bị cáo Ngô Đức T đã có hành vi cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Vì vậy cần phải được xử lý nghiêm khắc trước pháp luật cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo cũng như đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu

nhập do vậy không cần thiết phái áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 .

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi

thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại

Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo

quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173 ; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự

năm 2015 .

Xử phạt: Ngô Đức T 06 ( sáu ) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi

hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/7/2019 đến ngày 28/7/2019.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng

hình sự năm 2015.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận

được bản án.

Cỡ chữ