vanban.org

Bản án 179/2019/HC-ST — Hành chính

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 17/09/2019 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Bác yêu cầu khởi kiện của anh NXK (do ông Lê Văn Tiến đại diện theo ủy quyền) đề nghị hủy:

Quyết định số 3415/QĐ-UBND ngày 30-6-2014 của UBND quận TX phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi đất. Quyết định số 2852/QĐ-UBND ngày 14-7-2015 của UBND quận TX phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với chủ sử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "NXK - UBND quận TX"
  • Tòa quyết gì? I. Bác yêu cầu khởi kiện của anh NXK (do ông Lê Văn Tiến đại diện theo ủy quyền) đề nghị hủy:
  • Căn cứ chính? Điều 18 Luật Khiếu nại; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 204 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179a/2019/HC-ST.
Ngày: 17-9-2019.

V/v: Khiếu kiện Quyết định

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM phê duyệt Phương án BTHT do

thu hồi đất.

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trí Cường.

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Gia Ánh và bà Ngô Thị Ngọc Bích.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lưu Việt Thắng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Thắng, Kiểm sát viên.

Ngày 17-9-2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành xét xử công khai vụ án hành chính sơ thẩm đã thụ lý số 514/2017/TLST-HC ngày 19-12-2017 với yêu cầu hủy:

1. Quyết định số 3415/QĐ-UBND ngày 30-6-2014 của UBND quận TX phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi đất.

2. Quyết định số 2852/QĐ-UBND ngày 14-7-2015 của UBND quận TX phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi đất.

3. Quyết định số 4467/QĐ-UBND ngày 29-9-2015 của UBND quận TX phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi đất.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/QĐXXST-HC ngày 26-8-2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 103/HPT-HC ngày 11-9-2019, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Anh NXK, sinh năm 1983.

NKTT: Số 18-A2 Tòa chung cư, văn phòng và dịch vụ số 200 Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, (vắng mặt tại phiên tòa).

Đại diện theo ủy quyền của anh NXKlà ông Lê Văn Tiến, sinh năm 1965. Địa chỉ: Phòng 1109, tòa nhà OTC5A, khu đô thị Resco Cổ Nhuế, đường Phạm Văn Đồng, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, (có mặt tại phiên tòa).

- Người bị kiện: UBND quận TX, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền là ông Võ Đăng Dũng, chức vụ: Phó chủ tịch UBND quận TX, thành phố Hà Nội, (xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chủ tịch UBND quận TX, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền là ông Võ Đăng Dũng, chức vụ: Phó chủ tịch UBND quận TX, thành phố Hà Nội, (xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là ông Phạm Tần Anh, Phó giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất quận TX, thành phố Hà Nội, (có mặt tại phiên tòa).

2. UBND phường KĐ, quận TX, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền là ông Chu Xuân Sơn, chức vụ: Phó chủ tịch UBND phường KĐ, (có mặt tại phiên tòa).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là ông Phạm Tần Anh, Phó giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất quận TX, thành phố Hà Nội, (có mặt tại phiên tòa).

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

Thực hiện Dự án cải tạo Hồ Khương Trung I thuộc Dự án thoát nước nhằm cải thiện môi trường Hà Nội – giai đoạn II, UBND quận TX đã ban hành Quyết định số 3234/QĐ-UBND ngày 30-6-2014 thu hồi 45,4 m2 đất đối với anh NXK đang sử dụng tại tổ 19, phường KĐ, quận TX, thành phố Hà Nội.

UBND quận TX đã 2 lần phê duyệt hỗ trợ và phê duyệt điều chỉnh, bổ sung hỗ trợ khi thu hồi đất đối với anh NXK. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Tại Quyết định số 3368/QĐ-UBND ngày 30-6-2014 của UBND quận TX phê duyệt:

- Không bồi thường, hỗ trợ về đất vì sử dụng đất công (đất đầm), thời điểm sử dụng sau 22-4-2009.

- Hỗ trợ 10% giá trị công trình xây dựng trên đất gồm:

Tường rào 110, bổ trụ, diện tích 25,22 m2 đơn giá 922.000 đồng/m2 = 2.325.284 đồng.

Móng gạch (chuyển đổi sang tường gạch), diện tích 17,82 m2 đơn giá 1.365.000 đồng/m2 = 2.432.430 đồng.

Tổng số tiền hỗ trợ là 4.758.000 đồng.

Lần thứ hai: Tại Quyết định số 2901/QĐ-UBND ngày 14-7-2015, UBND quận TX phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Phương án hỗ trợ 45,4 m2 theo giá đất nông nghiệp choanh NXKlà 11.441.000 đồng.

Do anh NXK khiếu nại nên Chủ tịch UBND quận TX đã ban hành Quyết định số 4739/QĐ-UBND ngày 12-10-2015 giải quyết không chấp nhận khiếu nại của anh NXK.

Ngày 14-7-2016 anh NXKkhởi kiện vụ án hành chính với yêu cầu hủy Quyết định số 2901/QĐ-UBND ngày 14-7-2015 của UBND quận TX. Cùng với yêu cầu khởi kiện hành chính, anh NXK đề nghị UBND quận TX phải phê duyệt bồi thường về đất ở và bố trí tái định cư theo quy định của pháp luật.

Anh NXK trình bày lý do khởi kiện như sau:

45,4 m2 đất mà anh NXK bị thu hồi có nguồn gốc mua gian nhà cấp bốn của ông Lê Văn Tiến. Ông Lê Văn Tiến nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Đình Thành vào năm 2002, có giấy tờ viết tay nhưng không công chứng, chứng thực. Gia đình ông Phạm Đình Thành là người gốc ở phường KĐ, quận TX, thành phố Hà Nội sử dụng đất theo giấy của cụ Nguyễn Thị Nguyên để lại cho con cháu là ông Phạm Đình Phô, sau đó để lại cho con trai là ông Phạm Đình Thành sử dụng đất.

Ông Lê Văn Tiến đã chuyển nhượng 5 phần đất cho 05 người khác, có giấy tờ viết tay nhưng không công chứng, chứng thực, trong đó có anh NXK. Còn lại 131 m2 ông Lê Văn Tiến sử dụng.

Ông Lê Văn Tiến cho rằng anh NXK sử dụng đất có nguồn gốc đất ở do ông cha của ông Phạm Đình Thành sử dụng hợp pháp từ trước ngày 15-10-1993. Anh NXK nhận chuyển nhượng là tiếp tục sử dụng ổn định, không tranh chấp nên phải được bồi thường theo loại đất ở. UBND quận TX chỉ hỗ trợ theo giá đất nông nghiệp với đơn giá 252.000 đồng/m2 là không đúng pháp luật.

* Đại diện theo ủy quyền của UBND quận TX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh NXK vì cho rằng hoạt động phê duyệt hỗ trợ và phê duyệt điều chỉnh, bổ sung hỗ trợ khi thu hồi 200 m2 đất là đúng pháp luật. Cụ thể:

Căn cứ hồ sơ quản lý đất đai và Văn bản số 84/UBND-ĐC ngày 31-5-2014 của UBND phường KĐ đã xác định 45,4 m2 đất do anh NXK kê khai giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án cải tạo hồ Khương Trung I là một phần thửa đất số 5, số 6, thuộc tờ bản đồ số 7 đo vẽ năm 1990 và là một phần thửa đất số 24, số 25, tờ bản đồ số 16-D-I-c đo vẽ năm 1994, được UBND xã Khương Đình lập Sổ địa chính hoàn thành năm 1994 ghi nhận là đất Đầm và chủ sử dụng là UBND xã. Căn cứ mục 2 Điều 18 Quyết định số 108/2009/NĐ-CP ngày 29-9-2009 của UBND thành phố Hà Nội quy định: “Đất do lấn, chiếm và đất được giao, thuê không đúng thẩm quyền kể từ ngày 01-7-2004 trở về sau hoặc sau khi có thông báo thu hồi đất quy định tại Điều 49 của bản quy định này thì người sử dụng đất do có hành vi lấn, chiếm hoặc được giao đất, thuê đất không đúng thẩm quyền thì không được bồi thường, hỗ trợ về đất khi thu hồi đất”. Do đó, UBND quận TX đã phê duyệt Phương án không bồi thường về đất đối với anh NXK.

Sau đó, UBND thành phố Hà Nội có Văn bản số 3626/UBND ngày 28-5-2015 về việc bổ sung chính sách hỗ trợ và tái định cư thực hiện Dự án cải tạo hồ Khương Trung I. Theo đó, đồng ý cho UBND quận TX phê duyệt phương án hỗ trợ về đất và công trình kiến trúc trên đất theo Văn bản số 366/TTr-BCĐ ngày 22-5-2015 của Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng thành phố Hà Nội. Theo chủ trương là “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, hoặc tự sử dụng đất có nguồn gốc được UBND xã cho thuê, cho mượn, tự sử dụng đất do UBND phường quản lý, không công trình trên đất, hoặc tự xây dựng sau ngày 22-4-2009 được UBND phường xác nhận ổn định, không tranh chấp, đề nghị được hỗ trợ 252.000 đồng/m2”. Trên cơ sở đó, UBND quận TX đã ra Quyết định số 2901/QĐ-UBND ngày 14-7-2015 phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Phương án hỗ trợ đối với anh NXK với nội dung hỗ trợ 45,4 m2 đất theo giá đất nông nghiệp 252.000 đồng/m2.

Đại diện của UBND quận TX đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử bác yêu cầu khởi kiện của anh NXK.

* UBND phường KĐ trình bày nội dung thống nhất với quan điểm của UBND quận TX về xác định loại đất công (đất Đầm) do UBND phường quản lý; thống nhất về nguồn gốc cũng như hiện trạng sử dụng đất của anh NXK và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại cũng như tại phiên tòa, các đương sự không tranh chấp về tài liệu, chứng cứ các bên đã giao nộp cho Tòa án; không yêu cầu, đề nghị Tòa án xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ; không tranh chấp pháp lý về thẩm quyền cũng như trình tự, thủ tục mà UBND quận TX phê duyệt Phương án và phê duyệt điều chỉnh Phương án hỗ trợ đối với anh NXK. Các đương sự cũng thống nhất với chủ trương, mục đích thu hồi đất cũng như loại dự án; thống nhất về số lượng và loại tài sản đã kiểm đếm có liên quan đến giải phóng mặt bằng. Nội dung mâu thuẫn của đương sự là xác định loại đất và chủ sử dụng đất để thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của anh NXK.

Tại phiên tòa:

- Anh NXK vắng mặt nhưng Người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Văn Tiến trình bày giữ nguyên yêu cầu và lý do khởi kiện, đồng thời đề nghị hủy quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND quận TX là ông Phạm Tần Anh khẳng định không sửa đổi, bổ sung, thay thế các quyết định hành chính. Anh NXK đã khiếu nại và được Chủ tịch UBND quận TX giải quyết bằng Quyết định số 4739/QĐ-UBND ngày 12-10-2015 với nội dung không chấp nhận khiếu nại. Cho đến nay Chủ tịch UBND quận TX giữ nguyên quan điểm giải quyết khiếu nại.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về hoạt động thụ lý, giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã đảm bảo đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính. Đương sự và Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. UBND quận TX đã phê duyệt và điều chỉnh bổ sung hỗ trợ đối với anh NXK là đúng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của anh NXK.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập và được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, của người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự và ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

. Xác định đối tượng khởi kiện, thẩm quyền và phạm vi giải quyết vụ án hành chính.

Quyết định số 3368/QĐ-UBND ngày 30-6-2014 và Quyết định số 2901/QĐ-UBND ngày 14-7-2015 của UBND quận TX về hỗ trợ khi thu hồi đất là quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai, thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 6 Điều 22 Luật Đất đai và khoản 2 Điều 3, Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử cũng xem xét Quyết định số 4739/QĐ-UBND ngày 12-10-2015 của Chủ tịch UBND quận TX về giải quyết khiếu nại lần đầu đối với anh NXK.

. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 14-7-2016 anh NXK nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính đã đảm bảo thời hiệu quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

Xét quyết định hành chính bị khiếu kiện

. Về thẩm quyền và trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính.

Quá trình tham gia tố tụng các đương sự trong vụ án không tranh chấp pháp lý về thẩm quyền và trình tự, thủ tục mà UBND quận TX phê duyệt và phê duyệt điều chỉnh bổ sung khi thu hồi đất đối với anh NXK. Mặt khác, căn cứ Điều 98 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Điều 44 Luật Đất đai năm 2003; Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, Điều 30, Điều 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13-8-2009 của Chính phủ; Điều 30 đến Điều 34 và Điều 36 Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND ngày 20-6-2014 của UBND thành phố Hà Nội thì UBND quận TX ban hành Quyết định số 3368/QĐ-UBND ngày 30-6-2014 và Quyết định số 2901/QĐ-UBND ngày 14-7-2015 là đúng thẩm quyền và đảm bảo trình tự, thủ tục.

Chủ tịch UBND quận TX ban hành Quyết định số 4739/QĐ-UBND ngày 12-10-2015 giải quyết khiếu nại là đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục quy định Điều 18, Điều 21, Điều 31, Điều 40 Luật Khiếu nại và khoản 5 Điều 36 Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND ngày 20-6-2014 của UBND thành phố Hà Nội.

. Xét lý do khởi kiện của anh NXK.

. Về xác định loại đất và chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất.

Thấy rằng: Anh NXK cho rằng sử dụng đất do nhận chuyển nhượng đất từ ông Lê Văn Tiến có nguồn gốc từ ông Phạm Đình Thành theo giấy tờ viết tay ngày 23-5-2002. Tuy nhiên, không cơ sở xác định ông Phạm Đình Thành là chủ sử dụng diện tích đất này để được quyền chuyển nhượng cho ông Lê Văn Tiến. Hồ sơ quản lý đất đai cho thấy thửa đất của ông Phạm Đình Phô được cụ Vũ Thị Nguyên tặng cho là thửa đất số 1762 thì tại Công văn số 98/CV-TTĐC ngày 11-9-1998 của Thanh tra Sở Địa chính cho biết Sổ mục kê và bản đồ các năm 1960 và 1987 chưa thấy có tài liệu thửa đất 1762 mang tên ông Phạm Đình Phô, sau này để lại cho con trai là ông Phạm Đình Thành như ông Lê Văn Tiến trình bày. Tài liệu là Biên bản cơ quan điều tra lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Diệu có nội dung gia đình ông Phạm Đình Phô đưa toàn bộ đất ruộng vào Hợp tác xã nhưng có một cái ao rộng nằm trong đầm Sòi, không thả được cá, không trồng được lúa nên Hợp tác xã không nhận và gia đình ông Phạm Đình Phô vẫn sử dụng cũng không đủ căn cứ xác định vị trí, diện tích thửa đất. Tài liệu là Biên lai thu thuế sử dụng đất mang tên ông Phạm Đình Thành cũng không chứng minh được vị trí, diện tích cũng không là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất. Theo quy định của pháp luật thì Biên lai thu thuế sử dụng đất chỉ là cơ sở để xác định thời điểm sử dụng đất. Mặt khác, việc chuyển nhượng hay tặng cho quyền sử dụng đất không đảm bảo về hình thức của giao dịch dân sự đối với bất động sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995.

Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự cũng như pháp luật đất đai thì tại thời điểm năm 2002 không căn cứ xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông Lê Văn Tiến do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Phạm Đình Thành. Sau đó ông Lê Văn Tiến tiếp tục chuyển nhượng cho anh NXK, nhưngquyền sử dụng đất từ người chuyển nhượng cũng như người nhận chuyển nhượng đều chưa được Nhà nước chứng nhận, các giao dịch chuyển nhượng đều không có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các giao dịch dân sự nêu trên giữa anh NXK với ông Lê Văn Tiến không thuộc phạm vi giải quyết vụ án hành chính này.

Trong khi đó, tài liệu địa chính thể hiện 45,4 m2 đất mà UBND quận TX thu hồi và hỗ trợ cho anh NXK là một phần thửa đất số 5 + 6, tờ bản đồ số 07 đo vẽ năm 1990, diện tích 52.041 m2, sau này thuộc thửa đất số 24 + 25, tờ bản đồ số 16-D-I-C đo vẽ năm 1994, đã được UBND xã Khương Đình lập Sổ địa chính năm 1994 xác định loại đất là đất Đầm do UBND xã Khương Đình quản lý.

Tại Bản tự khai, UBND quận TX đã xác định 45,4 m2 đất thu hồi đối với anh NXK liên quan đến Bản án hình sự sơ thẩm số 757 ngày 29-9-1995 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội là không phù hợp, bởi vì Bản án chỉ thu hồi toàn bộ số đất tại khu vực Đầm Hồng, Đầm Sen và 2.500 m2 đất (danh nghĩa cấp cho E26 Phòng không) các bị cáo đã mua đi bán lại bất hợp pháp. Trong khi đó, 45,4 m2 đất thu hồi đối với anh NXK không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án hình sự nêu trên. Mặc dù vậy, lý do này cũng không là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp đối với anh NXK. Lời khai của ông Lê Văn Tiến đại diện cho anh NXK tại phiên tòa cũng thừa nhận chưa bao giờ đăng ký, kê khai, nộp thuế sử dụng đối với 45,4 m2 đất này. Do đó, UBND quận TX xác định 45,4 m2 đất thu hồi đối với anh NXK là đất công (đất Đầm), chủ sử dụng đất là UBND phường KĐ là có căn cứ. Từ đó, UBND quận TX đã phê duyệt hỗ trợ về đất bằng giá đất nông nghiệp là 252.000 đồng/m2 là phù hợp và trên cơ sở đã xin ý kiến của UBND thành phố Hà Nội áp dụng chính sách đặc thù, được UBND thành phố Hà Nội chấp thuận tại Văn bản số 366/TTr-BCĐ ngày 22-5-2015 của Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng thành phố Hà Nội.

Trên cơ sở xác định nguồn gốc sử dụng đất, loại đất và tính đặc thù sử dụng đất của anh NXK thì UBND quận TX đã ban hành các quyết định phê duyệt hỗ trợ và phê duyệt điều chỉnh, bổ sung hỗ trợ về đất và tài sản trên đất đối với anh NXKlà đúng pháp luật.

. Về chính sách tái định cư:

Theo xác nhận ngày 30-7-2013 của Công an phường KĐ thì anh NXK không sinh sống tại địa chỉ giải phóng mặt bằng. Nội dung này phù hợp với lời khai của ông Lê Văn Tiến đại diện theo ủy quyền trong quá trình tham gia tố tụng cũng như trình bày tại phiên tòa. Có cơ sở xác định anh NXK không sinh sống trên diện tích đất tại thời điểm thu hồi đất thực hiện dự án. Đồng thời với việc sử dụng đất của anh NXK không thuộc trường hợp được bồi thường theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ. Do đó UBND quận TX không phê duyệt tái định cư đối với anh NXK là phù hợp với Điều 19 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13-8-2009 của Chính phủ; Điều 86 Luật Đất đai năm 2013 và mục 6 Văn bản số 3626/UBND –TNMT ngày 28-5-2015 của UBND thành phố Hà Nội. Yêu cầu của anh NXK được bố trí tái định cư không cơ sở chấp nhận.

Quyết định số 4739/QĐ-UBND ngày 12-10-2015 của Chủ tịch UBND quận TX giải quyết khiếu nại lần đầu có nội dung giữ nguyên nội dung đã phê duyệt hỗ trợ khi thu hồi đất đối với anh NXK là phù hợp.

Cần bác yêu cầu khởi kiện hành chính của anh NXK.

. Anh NXK phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, được đối trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí.

. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 204 và Điều 206 Luật Tố tụng hành chính.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính; Điều 98 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Điều 18, Điều 21, Điều 31, Điều 40 Luật Khiếu nại; Điều 44 Luật Đất đai năm 2003; khoản 6 Điều 22, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013; Điều 30, Điều 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13-8-2009 của Chính phủ; Điều 30 đến Điều 34 và Điều 36 Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND ngày 20-6-2014 của UBND thành phố Hà Nội; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

I. Bác yêu cầu khởi kiện của anh NXK (do ông Lê Văn Tiến đại diện theo ủy quyền) đề nghị hủy:

1. Quyết định số 3415/QĐ-UBND ngày 30-6-2014 của UBND quận TX phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi đất.

2. Quyết định số 2852/QĐ-UBND ngày 14-7-2015 của UBND quận TX phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi đất.

3. Quyết định số 4467/QĐ-UBND ngày 29-9-2015 của UBND quận TX phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi đất.

4. Quyết định số 4739/QĐ-UBND ngày 12-10-2015 của Chủ tịch UBND quận TX về việc giải quyết khiếu nại.

II. Về án phí: Anh NXK phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, đối trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 153 ngày 01-12-2017 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Anh NXK đã nộp đủ án phí hành chính sơ thẩm.

III. Anh NXK Khải (do ông Lê Văn Tiến đại diện theo ủy quyền) và UBND phường KĐ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chủ tịch &UBND quận TX được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ