vanban.org

Bản án 179/2019/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 18/06/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Q, sinh năm 1964 (Có mặt). Địa chỉ: Ấp A, xã M.H, huyện T, Đồng Tháp. 2. Bị đơn: Bà Võ Thị Q1, sinh năm 196…"
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2019/DS-PT
Ngày: 18-6-2019
"V/v tranh chấp về bồi thường
thiệt hại do sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Giao.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

Ông Đinh Chí Tâm.

- Thư ký phiên tòa: B Phạm Thị Ngọc H – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Nguyễn Tấn Tài – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 18/6/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2019/TLPT-DS ng y 20 tháng 3 năm 2019, về việc “Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 90/2018/DS-ST ng y 11 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng tháp bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 194/2019/QĐ-PT ngày 13 tháng 5 năm 2019 v Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 204/2019/QĐ-PT ngày 31 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: B Nguyễn Thị Kim Q, sinh năm 1964 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã M.H, huyện T, Đồng Tháp.

2. Bị đơn: B Võ Thị Q1, sinh năm 1964 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã M.H, huyện T, Đồng Tháp.

3. Người kháng cáo: B Nguyễn Thị Kim Q (Là nguyên đơn trong vụ án).

NỘI DUNG V ÁN:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Q trình bày:

Vào ngày 21/4/2013, bà Q1 nh gần b có h nh vi thuê côn đồ l anh Võ Thành T (T1) đánh b và bà Q1 chửi bới, l m cho tinh thần của b bị suy sụp, mất đi danh dự uy tín trong gia đình v xã hội, đời sống của b gặp khó khăn. Những năm qua, b bệnh liên tục, nhất l chỗ bị đánh thường bị đau, tổn thất cho đời sống v kinh tế gia đình. Nay b yêu cầu b Q1 bồi thường danh dự, nhân phẩm 10 tháng lương số tiền l 24.500.000 đồng, tổn thất đời sống kinh tế mất thu nhập của b l 03 năm 03 tháng 13 ng y số tiền l 118.300.000 đồng, bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tiền thuốc số tiền l 300.000 đồng. Tổng cộng bà Q yêu cầu b Q1 bồi thường số tiền l 143.100.000 đồng.

- Bị đơn Võ Thị Q1 tại cấp sơ thẩm trình bày:

Bà Q v b l h ng xóm của nhau, b Q cho rằng b thuê côn đồ đánh b Q v xúc phạm danh dự, nhân phẩm của b Q v yêu cầu b bồi thường danh dự, nhân phẩm 10 tháng lương số tiền l 24.500.000 đồng, tổn thất đời sống kinh tế mất thu nhập của b l 03 năm 03 tháng 13 ng y, số tiền l 118.300.000 đồng, bồi thường thiệt hại về sức khỏe số tiền l 300.000 đồng. Tổng cộng b Q yêu cầu b Q1 bồi thường số tiền l 143.100.000 đồng. Bà Q1 không đồng ý vì b Q1 cho rằng b Q1 không có thuê ai đánh b Q cũng như không có xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín bà Q. Giữa b v b Q từ trước đến nay không có mâu thuẫn gì, thậm chí trước đây b có cho b Q mượn v ng vụ việc b Q đã được Tòa án giải quyết, không có việc b thuê anh T đánh b Q, b không đồng ý theo yêu cầu của b Q.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 90/2018/DS-ST ng y 11 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Căn cứ v o các Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 588, 590, 592 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bồi thường thiệt hại sức khỏe, danh dự nhân phẩm v tổn thất đời sống, kinh tế bị xâm phạm của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim Q.

- Về án phí: B Nguyễn Thị Kim Q thuộc diện được miễn tiền án phí theo quy định, theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án, b Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền 2.965.000đ (Hai triệu, chín trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 06826 ng y 08 tháng 9 năm 2016.

Ngo i ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo, quyền yêu cầu thi h nh án của các đương sự theo luật định.

Ngày 22 tháng 12 năm 2018, nguyên đơn Nguyễn Thị Kim Q kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm đã xét xử.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Nguyễn Thị Kim Q vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện v yêu cầu kháng cáo.

Trong quá trình tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm, bị đơn Võ Thị Q1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về vụ án như sau:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án v tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử v Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Riêng đối với b Võ Thị Q1 cố tình vắng mặt tại phiên tòa l không chấp h nh theo giấy triệu tập xét xử của Tòa án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiến h nh xét xử vắng mặt đối với b Q1 theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của b Nguyễn Thị Kim Q; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 90/2018/DS-ST ng y 11 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vì nguyên đơn không có căn cứ để chứng minh bị đơn xúi anh Võ Thanh T đánh b Q cũng như bị đơn không có xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín nguyên đơn. Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các t i liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa v căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến phát biểu của vị Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết v xét xứ vụ án đúng thẩm quyền v thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định.

Tại phiên tòa ng y 18/6/2019, nguyên đơn Nguyễn Thị Kim Q có mặt. Còn bị đơn Võ Thị Q1 vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến h nh xét xử vắng mặt b Q1 theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án: B Nguyễn Thị Kim Q yêu cầu cá nhân b Võ Thị Q1 bồi thường thiệt hại cho b Q về sức khỏe v danh dự, nhân phẩm, uy tín gồm: Bồi thường danh dự, nhân phẩm 10 tháng lương với số tiền l 24.500.000 đồng; bồi thường tổn thất đời sống kinh tế mất thu nhập l 03 năm 03 tháng 13 ng y với số tiền l 118.300.000 đồng; bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tiền thuốc với số tiền l 300.000 đồng. Tổng cộng b Q yêu cầu b Q1 bồi thường số tiền l 143.100.000 đồng, vì b Q cho rằng vào ngày 21/4/2013 bà Q1 xúi anh Võ Thanh T đánh b Q gây thương tích và bà Q1 có h nh vi nói xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín bà Q; Phía b Võ Thị Q1 không đồng ý bồi thường số tiền trên theo như yêu cầu của b Q, vì bà Q1 cho rằng bà Q1 không có xúi anh T đánh bà Q gây thương tích cũng như bà Q1 không có xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín bà Q.

[3] Theo nội dung đơn kháng cáo cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bà Q trình bày v yêu cầu b Q1 bồi thường số tiền tổng cộng l 143.100.000 đồng, vì bà Q cho rằng b Q1 xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín bà Q và xúi anh Võ Thanh T đánh b Q gây thương tích cho b Q.

[4] Xét qua nội dung kháng cáo cũng như lời trình b y v yêu cầu trên của b Nguyễn Thị Kim Q l không có căn cứ nên không được chấp nhận; bởi lẽ: Trong quá trình thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm thì bà Q không có t i liệu, chứng cứ gì để chứng minh l b Q1 đã xúi anh Võ Thành T đánh bà Q gây thương tích và bà Q không có t i liệu, chứng cứ gì để chứng minh l b Q1 xúc phạm danh dư, nhân phẩm, uy tín bà Q. Tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bà Q xác định thương tích của b Q là do anh Võ Thanh T đánh gây ra và các nhân chứng trực tiếp có tại nơi xảy ra sự việc như anh Nguyễn Văn T2 trình bày là thấy anh T có đánh b Q, nhưng anh Tới không có nghe hay thấy việc b Q1 thuê hay xúi giục anh T (T1) đánh bà Q và anh Nguyễn Văn C (l em bạn dì ruột của b Q) trình bày là sau khi sự việc xảy ra anh C có chở b Q đi mua thuốc uống do bị anh T đánh gây thương tích và anh C trình bày là không biết hay nghe ai nói gì về việc b Q1 thuê anh T đánh b Q. Như vậy, có đủ căn cứ xác định bà Q1 không có thuê anh T đánh b Q là ho n to n đúng sự thật, nên bà Q1 không phải chịu trách nhiệm bồi thường gì đối với yêu cầu của b Q. Đồng thời, theo xác nhận của Công an xã M.H, huyện T vào ngày 21/4/2013 đã xác nhận l Công an xã không có tiếp nhận thông tin báo n o về việc xảy ra xô xát v có h nh vi của b Q1 thuê anh T (T1) đánh b Q. Mặt khác, tại công văn số: 179/CV- CAH ngày 20/5/2013 của Công an huyện T xác nhận l Công an huyện T có tiếp nhận đơn tố cáo của b Q và có biên bản tiếp xúc v l m việc với b Q1 và anh T v có kết luận: “việc b Q cho rằng b Q1 thuê anh T sĩ nhục v đánh b Q l không có cơ sở, chỉ có sự việc anh T dùng tay đánh b Q ở gần nh b Q1, sau khi sự việc xảy ra Công an huyện có văn bản yêu cầu b Q đi giám định thương tật (nếu có), tuy nhiên b Q không yêu cầu Công an huyện giám định thương tích để xử lý đối với anh T…”. Và theo giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn M.A thì anh Võ Thành T đã chết v o ng y 03 tháng 5 năm 2017. Như đã phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của b Q về việc yêu cầu bà Q1 phải bồi thường thiệt hại sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tiền công lao động cho bà Q là hoàn toàn không có căn cứ nên không chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo cũng như yêu cầu khởi kiện của b Q là ho n to n có căn cứ v phù hợp, đúng pháp luật.

[5] Trong quá trình thu thập chứng cứ của Tòa án, b Q trình b y thương tích của b Q là do anh Võ Thành T gây ra v trong vụ án n y b Q không yêu cầu anh T bồi thường thiệt hại cho b Q nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tại phiên tòa phúc thẩm l ho n to n có cơ sở v phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[7] Từ những nhận định v phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận kháng cáo của bà Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xét xử là hoàn to n có căn cứ v phù hợp, đúng pháp luật.

[8] Về án phí: Bà Q được miễn to n bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm v án phí phúc thẩm theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án. Bà Q được nhận lại to n bộ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

- Căn cứ khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 3 Điều 296 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim Q.

2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 90/2018/DS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của b Nguyễn Thị Kim Q về việc yêu cầu b Võ Thị Q1 bồi thường thiệt hại do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

4. Về án phí: B Nguyễn Thị Kim Q được miễn to n bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm v án phí dân sự phúc thẩm. Ho n trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim Q tiền tạm ứng án sơ thẩm là 2.965.000 đồng (Hai triệu, chín trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 06826 ng y 08 tháng 9 năm 2016 của Chi cục Thi h nh án huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

5. Các phần khác của phần quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b v 9 Luật Thi h nh án dân sự; Thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.

Cỡ chữ