vanban.org

Bản án 179/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 18/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Quang D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Đinh Quang D 07 (bẩy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/6/2018. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dinh Quang D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Quang D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2018/HS-ST
Ngày: 18 - 10 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phùng Mạnh Cường

Ông Trịnh Tuấn Sỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Phượng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2018, tại phòng xét xử tầng 2 - trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 181/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Đinh Quang D (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 13/4/1976 tại Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 42/2, đường T, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Anh Đ (đã chết năm 2010) và bà Cao Thị Kim V, sinh năm 1947; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 13/10/1994 bị Tòa án nhân dân thị xã L xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân, đã được xóa án tích; ngày 15/3/1996 bị Tòa án nhân dân tỉnh L xử phạt 06 năm tù về tội Cướp giật tài sản riêng của công dân và trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích; ngày 21/3/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh L xử phạt 06 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích. Ngày 21/3/2012 bị Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong; lần xử phạt hành chính trên đã được xóa.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 29/6/2018, tạm giam ngày 02/7/2018 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 29/6/2018, tại khu tái định cư khối xx, thuộc phường V, thành phố L; tổ công tác Công an thành phố L đang làm nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang Đinh Quang D có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lương Đình T. Thu giữ của Đinh Quang D 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 100.000VNĐ (Một trăm nghìn đồng), 01 (một) chiếc mũ bằng lá cọ màu vàng và 01 (một) chứng minh thư nhân dân.

Tại bản kết luận giám định số: 264/KLTT-PC54 ngày 02/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: "Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,106 gam (đã trừ bì)."

Tại bản Cáo trạng số: 180/CT-VKS ngày 11/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố Đinh Quang D về "Tội mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 29/6/2018, Đinh Quang D nhận được điện thoại của Lương Đình T (Sinh năm 1989, trú tại số 32, ngõ 2, đường Ngô Quyền, phường V, thành phố L) bảo mua 01 tép ma túy, Đinh Quang D đồng ý và hẹn Lương Đình T ra trước cửa quán M thuộc khu tái định cư khối xx, phường V, thành phố L. Đinh Quang D gói 01 tép ma túy trong giấy vệ sinh để trong lòng chiếc mũ bằng lá cọ màu vàng cho Lương Đình T nhìn thấy ma túy. Sau đó, Lương Đình T bỏ vào trong lòng chiếc mũ 200.000VNĐ. Khi Đinh Quang D đưa ma túy cho Lương Đình T thì bị phát hiện, bắt quả tang. Nguồn gốc số ma túy do Đinh Quang D mua với một người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực cổng chợ Đ, đường N, phường V, thành phố L 01 gói ma túy giá 100.000 VNĐ (một trăm nghìn đồng). Trước đó, trong tháng 5/2018 Đinh Quang D cũng đã bán ma túy cho Lương Đình T 01 gói ma túy trị giá 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo "Đinh Quang D phạm "Tội mua bán trái phép chất ma túy". Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Quang D từ 07 (bẩy) đến 08 (tám) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì qua xác minh các bị cáo không có tài sản để đảm bảo thi hành án. Về xử lý vật chứng áp dụng điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật chất ma túy; 01 chiếc mũ bằng lá cọ màu vàng; trả lại chứng minh thư nhân dân cho bị cáo Đinh Quang D; tịch thu số tiền 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến đối đáp, tranh luận lại với đề nghị luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối hận về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, tang vật thu giữ, đồng thời phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ, xác định: Trong tháng 5/2018 và ngày 29/6/2018, Đinh Quang D có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lương Đình T 02 lần, mỗi lần một gói ma túy Heroin trị giá 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng), thu lời mỗi lần 100.000 đồng. Bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, nhằm mục đích thu lời bất chính, thỏa mãn nhu cầu của bản thân.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng, hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hại đến trật tự, an ninh xã hội. Ma tuý là các hỗn hợp chất hoá học, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp nhân tạo, gây kích thích hoặc ức chế thần kinh. Ma tuý không chỉ huỷ hoại sức khoẻ mà còn làm suy thoái nòi giống, tàn phá phẩm giá và nhân cách của con người. Ma tuý là nguyên nhân làm phát sinh hàng loạt các loại tội phạm khác. Chính vì vậy, hành vi nhiều lần (02 lần) mua bán trái phép chất ma túy của Đinh Quang D cần được xử lý nghiêm trước pháp luật để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, có đủ căn cứ chứng minh bị cáo đã phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi nêu trên, cần phải xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo để cá thể hóa trách nhiệm hình sự và mức hình phạt, trên cơ sở xem xét đề nghị luận tội của cơ quan công tố, cụ thể:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bố đẻ bị cáo (ông Đinh Anh Đ) được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, huân chương chiến sĩ bảo vệ biên giới phía Bắc; đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt, đã từng có 03 tiền án và 01 tiền sự; tuy bị cáo đã chấp hành xong các Bản án, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và đều đã được xóa nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường, bất chấp pháp luật.

Hình phạt chính: Hội đồng xét xử xem xét, quyết định một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội; đó là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định, ấn định hình phạt đối với bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt, đảm bảo thời gian cho bị cáo tập trung học tập, cải tạo, làm lại cuộc đời, đoàn tụ, chăm sóc gia đình và trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng đảm bảo tính chất răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh ngày 08/5/2018 có xác nhận của chính quyền địa phương và lời khai tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có thu nhập không có tài sản đảm bảo thi hành án; vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì không mang tính khả thi trong công tác thi hành án, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các bị cáo yên tâm học tập, cải tạo, sớm thi hành xong Bản án.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là vật cấm lưu hành; 01 chiếc mũ là công cụ phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng. Trả lại 01 chứng minh thư nhân dân là giấy tờ liên quan đến nhân thân, không liên quan đến hành vi phạm tội. Tịch thu sung công quỹ số tiền 200.000VNĐ của Đinh Quang D do phạm tội mà có.

Đề nghị trong lời nói sau cùng của bị cáo đã được Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình nghị án và cân nhắc khi quyết định hình phạt.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Quang D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt bị cáo Đinh Quang D 07 (bẩy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/6/2018.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định và 01 chiếc mũ bằng lá cọ.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

- Trả lại cho bị cáo Đinh Quang D 01 chứng minh thư nhân dân.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 9 năm 2018. Số tiền 200.000 đồng được gửi tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố L theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Công an thành phố L).

4. Án phí: Buộc bị cáo Đinh Quang D phải chịu 200.000VNĐ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo; Tòa báo cho bị cáo được biết có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ