vanban.org

Bản án 178 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T xin ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T được quyền nuôi con chung con chung tên Nguyễn Văn Nguyên, sinh ngày 28 tháng 9 năm 2005. Ông Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà T không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T xin ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án: 178/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 11 - 2021
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phảiần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phảián Chủ tọa phảiiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông La Văn Việt.

2. Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phảiiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 510/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 198/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: Ấp Tân B, xã T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1975.

Địa chỉ: Ấp Tân H, xã H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

(Bà T và ông H xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 04 tháng 10 năm 2021 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 15 tháng 11 năm 2004. Vợ chồng chung sống hạnh phảiúc đến năm 2006 thì phảiát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất hòa trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vả, cuộc sống chung không phù hợp. Nay bà T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên xin ly hôn ông H.

Về con chung: Bà T khai, bà T và ông H chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Anh H, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2005. Khi ly hôn, bà T xin được quyền tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T khai, không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T khai, không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại lời trình bày của ông Nguyễn Văn H: Ông H xác nhận lời trình bày của bà T về thời gian điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung, tài sản chung và nợ chung giữa ông H và bà T theo lời trình bày của bà T là đúng. Nay bà T xin ly hôn, ông H đồng ý.

Về con chung: Ông H khai, ông H và bà T chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Anh H, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2005. Khi ly hôn, ông Hỉa đồng ý giao con chung cho bà T nuôi và ông H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông H khai, không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông H khai, không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phảiiên Toà căn cứ các kết quả thẩm tra, xét hỏi tại phảiiên Toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ phảiáp luật tranh chấp là hôn nhân gia đình; Bị đơn ông Nguyễn Văn H có hộ khẩu thường trú tại ấp Tân H, xã H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (Theo xác nhận của Công an xã H ngày 04 tháng 10 năm 2021) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và bị đơn ông Nguyễn Văn H xin vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T và ông H.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 15 tháng 11 năm 2004 nên quan hệ hôn nhân của bà T và ông H được xem là hôn nhân hợp phảiáp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà T và ông H chung sống với nhau hạnh phảiúc đến năm 2006 thì phảiát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải vã dù hai bên đã cố gắng hàn gắn để kéo dài cuộc sống hôn nhân nhưng không được. Nay bà T và ông H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên thuận tình ly hôn. Xét việc thuận tình ly hôn giữa bà T và ông H là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về con chung: Bà T và ông H thống nhất khai, bà T và ông H chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Anh H, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2005. Khi ly hôn, bà T và ông H thồng nhất thỏa thuận: Bà T được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Anh H, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2005 và ông H không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà T không yêu cầu. Xét sự thỏa thuận giữa bà T và ông H là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận

Về tài sản chung: Bà T và ông H thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về nợ chung: Bà T và ông H thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về án phảií: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phảií hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phảií, lệ phảií Toà án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 5, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 55, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phảií, lệ phảií Tòa án

T xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T xin ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T được quyền nuôi con chung con chung tên Nguyễn Văn Nguyên, sinh ngày 28 tháng 9 năm 2005. Ông Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà T không yêu cầu.

Ông Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom cháu H mà không ai được cản trở. Trường hợp ông H lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông H theo quy định của phảiáp luật. Bà T cùng các thành viên gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con của ông H.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì ông H, bà T, người thân thích của cháu H, Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phảiụ nữ đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định của phảiáp luật.

Về tài sản chung: Bà T và ông H thống nhất khai, không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đề cập xem xét.

Về nợ chung: Bà T và ông H thống nhất khai, không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đề cập xem xét.

Về án phảií: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000đ án phảií hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước, được khấu trừ số tiền 300.000đ tạm ứng án phảií mà bà Nguyễn Thị Thanh T đã nộp theo biên lai số 8795 ngày 19 tháng 10 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hoà sang án phảií để thi hành.

Án này là sơ thẩm, bà T và ông H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.

Cỡ chữ