vanban.org

Bản án 178/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/05/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị O được ly hôn với ông Chiang Hsing Fa.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung: Không có. 2. Về án phí và thi hành án: Thi hành án dưới sự giám sát của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Oanh - Chiang Hsing Fa"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị O được ly hôn với ông Chiang Hsing Fa.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21/5/2025
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Nhanh

2/ Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 167/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/5/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1737/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6282/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/4/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị O, sinh năm 1972

Địa chỉ: 44 đường 1C phường B, quận B, Thành phố H

Bị đơn: Ông Chiang Hsing Fa, sinh năm 1974

Địa chỉ: No.83 Chung Shan RD. 019 Lin Tai Shi Tsun Tai Shi Hsiang, Yun Lin Hsien, Taiwan.

(Các đương sự vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Võ Thị O trình bày:

Bà và ông Chiang Hsing Fa tự nguyện kết hôn vào năm 1999 theo giấy chứng nhận kết hôn số 4370, quyển số 23 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/11/1999.

Sau khi kết hôn ông Chiang Hsing Fa bảo lãnh bà sang Đài Loan sinh sống, thời gian đầu hai bên chung sống hạnh phúc bình thường, đến khoảng cuối năm 2000 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, văn hóa và lối sống không hợp. Ông Chiang Hsing Fa có mối quan hệ bất chính bên ngoài, khi bà biết bà đã nhiều lần nói chuyện nhằm hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không được. Đến cuối năm 2001 bà quay trở về Việt Nam sinh sống và từ đó đến nay không còn qua Đài Loan nữa. Do hai bên sống cách xa nhau nên không có thời gian quan tâm, chăm sóc nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Thực tế hai bên đã sống ly thân từ năm 2000 đến nay không quan tâm đến đời sống của nhau. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, kéo dài việc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Chiang Hsing Fa để có điều kiện ổn định cuộc sống. Về con chung: Không có Về tài sản chung và nợ chung: Không có Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ được vì ông Chiang Hsing Fa đang cư trú tại Đài Loan Tại phiên tòa sơ thẩm, Bà Võ Thị O và ông Chiang Hsing Fa đều vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Võ Thị O, cho bà Võ Thị O được ly hôn với ông Chiang Hsing Fa, về con chung, tài sản chung và nợ chung bà Võ Thị O khai không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Võ Thị O đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh có đơn xin ly hôn với ông Chiang Hsing Fa hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 37, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Võ Thị O tham gia phiên tòa lần thứ nhất vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 23/4/2025, lần hai vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 21/5/2025 nhưng bà Võ Thị O có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Đối với ông Chiang Hsing Fa, Tòa án đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 167/TB-TLVA ngày 08/5/2024 cho ông Chiang Hsing Fa theo Công văn số 457/TTTPDS-TA30 ngày 03/7/2024 đề nghị tống đạt văn bản trên cho ông Chiang Hsing Fa theo quy định của pháp luật. Theo Công văn số 2262/CH-BTP ngày 12/8/2024 của Bộ Tư pháp thì Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ ủy thác nêu trên cho Bộ Tư pháp Lãnh thổ Đài Loan. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được văn bản số 3881/BTP-PLQT đề ngày 06/12/2024 thông báo về kết quả ủy thác tư pháp cho ông Chiang Hsing Fa, Bộ Tư pháp Lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện được ủy thác nêu trên vào ngày 28/10/2024, bằng phương thức: Gửi hồ sơ ủy thác tại đồn công an. Tuy nhiên, đến nay không thấy ông Chiang Hsing Fa có thông tin phản hồi. Tòa án đã mở phiên tòa xét xử vụ án lần thứ nhất vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 23/4/2025 nhưng do ông Chiang Hsing Fa vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa, đồng thời ấn định thời gian mở lại phiên tòa xét xử vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 21/5/2025. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay ông Chiang Hsing Fa vẫn tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 228, Điều 477 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 4370, quyển số 23 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/11/1999 thì quan hệ hôn nhân của bà Võ Thị O và ông Chiang Hsing Fa là hợp pháp.

Theo nguyên đơn trình bày: Sau khi kết hôn hai bên sang Đài Loan sinh sống, thời gian đầu cuộc sống chung hạnh phúc bình thường, đến khoảng cuối năm 2000 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, văn hóa và lối sống không hợp. Ông Chiang Hsing Fa có mối quan hệ bất chính bên ngoài, bà Võ Thị O đã nhiều lần nói chuyện nhằm hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không được. Đến cuối năm 2001 bà O quay trở về Việt Nam sinh sống và từ đó đến nay không còn qua Đài Loan nữa. Do hai bên sống cách xa nhau nên không có thời gian quan tâm, chăm sóc nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Thực tế hai bên đã sống ly thân từ năm 2000 đến nay không quan tâm đến đời sống của nhau. Về phía ông Chiang Hsing Fa Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp thông báo ngày giờ mở phiên tòa xét xử theo quy định pháp luật nhưng ông Chiang Hsing Fa không có phản hồi, cũng không có mặt tại phiên tòa. Điều này chứng tỏ ông Chiang Hsing Fa không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Về phía bà Võ Thị O xác định không còn tình cảm với ông Chiang Hsing Fa nên dứt khoát xin ly hôn.

Xét thấy mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi vợ chồng thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau. Đây cũng là tình cảm và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau và được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nay bà Võ Thị O xác định tình cảm giữa bà và ông Chiang Hsing Fa không còn, cũng không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó bà Võ Thị O yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với ông Chiang Hsing Fa là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị O khai không có nên không xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn bà Võ Thị O phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thị O và ông Chiang Hsing Fa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 262, Điều 273, Điều 477 và 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị O.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị O được ly hôn với ông Chiang Hsing Fa.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có. 2. Về án phí và thi hành án: Thi hành án dưới sự giám sát của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bà Võ Thị O phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Võ Thị O đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0032972 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Võ Thị O đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. 3. Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thị O được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Chiang Hsing Fa có quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. 4. Trườ ng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ