- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ca Thị Kim V - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Ca Thị Kim V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp d…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2023/HS - ST Ngày: 25-9-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khương Minh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đặng Minh Lý.
2/ Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phương Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 188/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2023/QĐXXST–HS ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ca Thị Kim V, sinh năm 1994 tại tỉnh Tiền Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 16 đường 8, khu phố 1, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Nhà cho thuê Phạm Quỳnh Như, ô 28A DC 9, khu phố 4, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Thợ làm móng; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ca Văn Hòa và bà Phạm Thị Bích; bị cáo có chồng tên Lê Quốc Tuấn (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
Bị hại: Bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1996; địa chỉ: Căn hộ 12A17 Chung cư Biconsi, số 1 đường Phú Lợi, khu phố 1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Ca Thị Kim V và chị Lê Thị Kim A là bạn quen biết và thường đi chơi chung với nhau. Khoảng 13 giờ, ngày 10/4/2023, chị Kim A gọi điện thoại rủ bị cáo V đến căn hộ số 12A17 thuộc Chung cư Biconsi, địa chỉ tại khu phố 1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương của chị Kim A thuê để ăn uống và nói chuyện. Sau khi bị cáo V đến nơi và trong lúc cùng ngồi nói chuyện thì chị Kim A nói cho bị cáo biết là chị Kim A có để dành được số tiền khoảng 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng và 1.000 (một nghìn) USD cất trong 01 (một) tượng đất hình Minion màu vàng-xanh để trên kệ gỗ trong phòng ngủ của chị Kim A. Sau khi nghe chị Kim A nói vậy và do bị cáo đang gặp khó khăn về kinh tế nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền của chị Kim A cất trong tượng đất hình Minion để tiêu xài và trả nợ. Lúc này, bị cáo nói chị Kim A đi tắm để cả hai cùng ra ngoài ăn uống nên chị Kim A vào phòng vệ sinh tắm. Lợi dụng lúc chị Kim A ở trong phòng vệ sinh, bị cáo lén lút lấy tượng đất hình Minion màu vàng-xanh và dùng áo khoác màu trắng che đậy và đem đi ra ngoài căn hộ số 12A17, rồi đem xuống quán trà sữa Koi tại tầng trệt Chung cư Biconsi mua trà sữa. Trong lúc chờ lấy trà sữa, bị cáo đem tượng đất hình Minion vào nhà vệ sinh đập vỡ thì thấy số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng và 1.000 (một nghìn) USD nên lấy cất giấu trong bồn chứa nước của bồn vệ sinh, còn những mảnh vỡ của tượng đất hình Minion thì bỏ vào thùng rác. Sau đó, bị cáo đi lên căn hộ số 12A17. Sau khi tắm xong, chị Kim A và bị cáo đi đến quán Bò Sốt Hàu, địa chỉ tại đường Ngô Gia Tự, phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một để ăn uống. Khi đến nơi, bị cáo nói chị Kim A ngồi đợi để bị cáo đi công việc rồi sẽ quay lại ăn uống cùng chị Kim A. Bị cáo mượn xe mô tô hiệu Honda Vario, màu xanh-đen, biển số 67N7-452.24 của chị Kim A rồi điều khiển chạy đến quán trà sữa Koi nêu trên lấy số tiền đã cất giấu đem về tiệm Nail (làm móng) của bị cáo tại địa chỉ số C37, đường NA7, Khu Dân cư Việt-Sing, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương và lấy số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng và 200 (hai trăm) USD trả nợ, còn số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng và 800 (tám trăm) USD thì cất giấu trong hộc tủ. Sau đó, bị cáo quay lại quán Bò Sốt Hàu ăn uống cùng với chị Kim A rồi cả hai đi về căn hộ số 12A17. Sau khi về đến căn hộ số 12A17, chị Kim A phát hiện bị mất trộm tượng đất hình Minion màu vàng-xanh nên hỏi bị cáo thì bị cáo không thừa nhận hành vi lấy trộm tượng đất của chị Kim A nhưng sau đó do biết chị Kim A trình báo sự việc cho Công an phường Phú Lợi biết nên bị cáo cũng đi đến Công an phường Phú Lợi để đầu thú về việc lấy trộm tiền của chị Kim A. Công an phường Phú Lợi lập hồ sơ vụ việc, tạm giữ số vật chứng, gồm: 01 (một) tượng đất hình Minion màu vàng-xanh đã bị bể; 01 (một) USB hiệu Kingston 2GB màu xanh, có chứa 02 đoạn video clip (01 đoạn có thời lượng 0 phút 27 giây, 01 đoạn có thời lượng 0 phút 38 giây) và chuyển giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một để xác minh và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 11/4/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã thu giữ vật chứng do bị cáo giao nộp, gồm: Số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng và 800 (tám trăm) USD.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 102/KL-TTHS ngày 12/4/2023 của Hội đồng Định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một, kết luận: 01 (một) tượng đất hình Minion màu vàng-xanh (thời điểm chiếm đoạt ngày 10/4/2023) trị giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Đối với tượng đất nêu trên, do không còn giá trị sử dụng và chị Kim A không yêu cầu nhận lại tài sản nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển các vật chứng nêu trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, tiêu hủy.
Căn cứ Công văn số 464/BIDV.BD-QLRR ngày 13/4/2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bình Dương (BIDV) xác định tỷ giá USD (đô la Mỹ) tại thời điểm bị chiếm đoạt là 23.600 (hai mươi ba nghìn sáu trăm) đồng/USD. Như vậy, 1.000 (một nghìn) USD bị cáo chiếm đoạt của bị hại trị giá theo tiền Việt Nam đồng là 23.600.000 (hai mươi ba triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Đối với số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng và 800 (tám trăm) USD, ngày 24/4/2023 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã lập biên bản giao trả cho chị Kim A theo Quyết định xử lý vật chứng số 39 ngày 14/4/2023.
Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng và 200 (hai trăm) USD cho chị Kim A. Trong quá trình điều tra, chị Kim A làm đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt và không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo.
Tại Cáo trạng số 175/CT-VKSTDM ngày 29/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Ca Thị Kim V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đầu thú; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi, trả lại cho bị hại; bị cáo đang nuôi con nhỏ và bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo V mức hình phạt từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) tượng đất hình Minion màu vàng-xanh, đã bị bể, bên trong không có gì là tài sản không còn giá trị sử dụng và bị hại không có nhu cầu được nhận lại.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Ca Thị Kim V trình bày: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội chăm sóc cha mẹ già và nuôi con nhỏ vì bị cáo đã ly hôn và đang trực tiếp nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 10/4/2023, tại căn hộ số 12A17 thuộc Chung cư Biconsi, địa chỉ tại khu phố 1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Ca Thị Kim V đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) tượng đất hình Minion màu vàng-xanh, trị giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng, bên trong tượng đất có chứa số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng và 1.000 (một nghìn) USD (trị giá quy đổi sang tiền Việt Nam tại thời điểm bị cáo thực hiện tội phạm là 23.600.000 đồng/USD) của bị hại Lê Thị Kim A. Tổng trị giá tài sản bị cáo V chiếm đoạt của bị hại Kim A là 43.700.000 (bốn mươi ba triệu bảy trăm nghìn) đồng nhằm mục đích tiêu xài cá nhân và để trả nợ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy bị cáo lợi dụng bị hại sơ hở trong việc quản lý tài sản để lén lút chiếm đoạt tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ đã gây mất trật tự trị an tại địa phương và xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi, trả lại cho bị hại; bị cáo đầu thú; bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo; bị cáo đang nuôi con nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Căn cứ Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Do vậy, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tự cải tạo bản thân để trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội và thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo được hưởng án treo.
Xet thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) tượng đất hình Minion màu vàng-xanh, đã bị bể, bên trong không có gì là tài sản không còn giá trị sử dụng và bị hại không có nhu cầu nhận lại do đó cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106, 135, 260, 292, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Ca Thị Kim V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ca Thị Kim V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án (25/9/2023).
Giao bị cáo Ca Thị Kim V cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3/ Về trách nhiệm dân sự: Không.
4/ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) tượng đất hình Minion màu vàng-xanh, đã bị bể, bên trong không có gì.
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 160.23 ngày 30/8/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và và Công an thành phố Thủ Dầu Một).
5/ Về án phí: Buộc bị cáo Ca Thị Kim V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương (PV06); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một; - UBND phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, Tòa. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khương Minh Trí |